Thursday, May 23, 2019

SEIKO CHRONOGRAPH : LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

* biên dịch bởi Lê Hoàng Thạch*

CALIBRE 5719 : CHRONOGRAPH ĐEO TAY ĐẦU TIÊN CỦA NHẬT BẢN

Khi hãng Seiko bắt đầu thiết kế ra chiếc đồng hồ đeo tay bấm giờ đầu tiên của nước Nhật, họ đã đặt ra mục tiêu tạo ra một chiếc đồng hồ mang tính biểu tượng như một thiết bị bấm giờ. Suwa seikosha, tức nhà máy sản xuất đồng hồ của Seiko đặt tại thành phố suwa, đã bắt đầu phát triển đồng hồ để kịp ra mắt vào thế vận hội mùa hè 1964. Cỗ máy bên trong là Calibre 5719 lên dây cót bằng tay, dày 6.1 mm. Tính năng nổi bật của nó bao gồm một nút nhấn duy nhất để kích hoạt chức năng Chronograph, khớp nối ngang kết hợp với bánh xe dạng cột Column Wheel để kiểm soát chức năng bắt đầu/dừng lại và reset. Bộ phận cân bằng vận hành ở tần số 5.5 Hz hay 39.600 vph. Khi khởi động cơ chế bấm giờ, chiếc đồng hồ sẽ chạy được 38 giờ, bộ vỏ được làm bằng thép và có kích thước 38.2 mm đường kính, dày 11.2 mm.

Vì chiếc đồng hồ này không được trang bị các ô phụ để đo khoảng thời gian trôi qua, hãng Seiko đã trang bị cho nó một bộ niềng xoay 1 phút. Để đo khoảng thời gian lớn hơn 1 phút, ta kích hoạt Chronograph, sau đó xoay đỉnh tam giác của niềng đến đầu kim phút, sau đó, khi nhấn nút dừng, ta sẽ sử dụng kết hợp cả vạch dấu trên niềng xoay ( tính phút) kết hợp với vạch chia trên mặt số ( tính giây). Vấn đề nảy sinh ra với lô đồng hồ đầu tiên là bộ niềng xoay dễ bị vỡ, và Seiko đã khắc phục điều này bằng cách thay thế bộ niềng mới bằng thép chắc chắn hơn!

Monday, May 20, 2019

CHRONOGRAPH SUISSE : CÂU CHUYỆN BÍ ẨN ĐẰNG SAU MỘT CÁI TÊN

* biên dịch và tổng hợp bởi Lê Hoàng Thạch*

Không có gì lạ lùng khi các thương hiệu đồng hồ thuê gia công vỏ, mua máy, mặt kính, dây đeo... Rồi đem về lắp ráp tại công xưởng của họ, sau đó in tên của họ lên mặt số và gọi đó là " đồng hồ của tôi đấy!". Không phải tất cả các công ty đồng hồ đều được xây dựng hoàn chỉnh ngay từ đầu, và thậm chí cả các thương hiệu xa xỉ cỡ lớn cũng sử dụng máy của ETA cùng các thành phần bên ngoài khác nhau. Trở lại năm 1940, một thương hiệu có tên là " Chronograph Suisse" ( hoặc Swiss Chronograph) đã cung cấp những chiếc đồng hồ bấm giờ rẻ tiền, bình dân cho các nhãn hiệu để nhận và bổ sung thêm cả tên của họ lên mặt số. Thậm chí một số thợ đồng hồ ở địa phương còn tự ý  làm những chiếc đồng hồ dưới dạng " Chronograph Suisse" và trộn lẫn vào để bán, gây ra một mớ hỗn độn.

Nó phổ biến ở thị trường Châu Âu, trên danh nghĩa đồng hồ Thụy Sỹ giá rẻ dành cho khách du lịch. Chronograph Suisse trở thành nguồn thu đáng kể cho các thương hiệu nhỏ, thường bị lãng quên và nhiều chiếc trong số đó thuộc về các bộ sưu tập của tay chơi. Vào thời kì đỉnh cao, hơn 500 xưởng sản xuất đồng hồ với nguồn cung cấp từ Chronograph Suisse. Mô hình kinh doanh thành công này phát triển mạnh từ những năm 1940 đến những năm 1970, trước khi cuộc cách mạng thạch anh tàn phá toàn bộ ngành công nghiệp.  Chúng ta sẽ cùng nhau xem xét kĩ hơn về một chương bị lãng quên trong lịch sử phát triển đồng hồ thế kỉ 20.

NGUỒN GỐC CỦA THƯƠNG HIỆU

Thật khó để tìm ra nguồn gốc của Chronograph Suisse. Nó thường làm người ta nhớ đến các công ty như Seiko, nơi cung cấp các bộ phận cho các nhãn hiệu khác. Chẳng hạn như Seiko Calibre NH35A được sử dụng bởi nhiều thương hiệu nhỏ. Những nhãn hiệu này không in tên Seiko lên mặt số của họ, nhưng lại sử dụng cùng một cỗ máy với hãng này ! Tất nhiên so sánh này không hoàn toàn chính xác, vì Chronograph Suisse không tạo ra các cỗ máy In-house, hầu hết đồng hồ này đều sử dụng máy đến từ Swiss Venus, Landeron, hoặc Valjoux.

Đây là các công ty chuyên cung cấp các cỗ máy chất lượng cao, đáng tin cậy và có giá cả tương đối phải chăng - nó đi theo cùng hướng với Seiko hoặc ETA ngày nay. Những chiếc đồng hồ trong bài viết có kiểu dáng khá thời trang và cao cấp ( ý là bề ngoài thôi). Sử dụng vỏ thép hoặc bọc vàng mỏng, một số có sử dụng vỏ vàng nguyên khối 14k hoặc 18k đi kèm mặt số lạ mắt. Đây là một sự lôi cuốn hoàn hảo dành cho khách du lịch đang tìm kiếm những chiếc đồng hồ Thụy Sỹ giá rẻ. Bộ vỏ vàng nguyên khối được làm rất mỏng để giảm chi phí, các góc cạnh thường bị vạt bớt để tăng sản lượng, chúng là những vật lưu niệm rất phổ biến. Những mẫu vàng này vốn không hề rẻ mạt, một số mẫu cao cấp được bán với giá thành của một chiếc đồng hồ có thương hiệu.

Các cỗ máy thường được sử dụng cho Chronographe Suisse bao gồm Landeron Calibre 48 ( khoảng 3.5 triệu chiếc đã được sản xuất), sử dụng một bố cục 2 ô phụ trên mặt số. Nó hơi kì lạ một chút ở cơ chế vận hành : núm kích hoạt ở vị trí 2 giờ, còn núm góc 4 giờ có tác dụng dừng lại và Reset. Đó là một cỗ máy lên dây cót bằng tay, sở hữu 17 chân kính, dao động ở tần số 18.000 vph ( 2.5 hz). Và trữ cót được 42 giờ. Landeron có lịch sử từ năm 1873, nhưng mãi tới năm 1924 công ty này mới sản xuất các cỗ máy bấm giờ ( và năm 1925 chính thức đổi tên là Landeron).

Venus Calibre 170 là một cỗ máy khác được sử dụng trong Chronograph Suisse. Được thành lập từ 1923, Venus đã tạo ra cỗ máy bấm giờ đầu tiên vào năm 1933 - calibre 103. Cỗ máy Chronograph có chứa bánh xe dạng cột Column Wheel của họ, được ca ngợi là một trong những sản phẩm máy móc tốt nhất từng được sản xuất, bao gồm cả Cal.170, đây là cỗ máy lên dây bằng tay sở hữu 17 chân kính, dao động ở tần số 18.000 vph và trữ cót tới 40 giờ. Venus cũng tự sản xuất đồng hồ cho mình vào những năm 1970.

Những cỗ máy đến từ Valjoux cũng được nhìn thấy bên trong Chronographe Suisse, chẳng hạn như Valjoux 92. Tương tự như những cỗ máy khác, đây là một loại máy lên dây thủ công bằng tay, có 17 chân kính, 18.000 vph và khả năng trữ cót 39 giờ. Landeron, Venus và Valjoux đều là những nhà sản xuất cỗ máy phổ biến, được nhiều thương hiệu cao cấp sử dụng. Và họ đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập nên danh tiếng của Chronograph Suisse, biến nó trở thành một sự thay thế chất lượng nhưng có giá thành vừa phải so với các nhãn hiệu đồng hồ Thụy Sỹ có tiếng.

CÁC THƯƠNG HIỆU BỔ SUNG TRÊN MẶT SỐ

Bạn có thể tìm thấy vô vàn những chiếc Chronograohe Suisse ngoài kia, với những cái tên tối nghĩa in trên mặt số từ các nhãn hiệu bị lãng quên từ rất lâu. Dreffa là một trong những công ty nổi tiếng ( không được công nhận rộng rãi) có tên gắn kèm với Chronographe Suisse trên mặt số. Được thành lập vào năm 1874 tại Geneva, Thụy Sỹ bởi Armand Dreyffus. Dreffa đã trở thành một thương hiệu đồng hồ xa xỉ và bắt đầu thâm nhập vào thị trường Mĩ vào những năm 1940, dưới cái tên Dreffa Geneve. Nhiều mẫu của họ thuộc về nhánh Chronograph Suisse, thường in cả tên công ty đính kèm trên mặt số - cùng với dòng chữ Chronograph Suisse. Jacques Maguin đã mua lại nhãn hiệu Dreffa vào năm ,1985 và sửa đổi lô gô, và sau đó nó được mua lại bởi TGX Holding năm 2014, việc sản xuất được tiếp tục ở cả Geneva và Glashutte.

Một số thương hiệu khác, như Ultimor và Olympic cũng xuất hiện trên dòng này. Và chỉ biến mất khi cuộc khủng hoảng thạch anh tàn phá các thương hiệu nhỏ hơn. Có một tỉ lệ rất lớn các công ty kiểu này tồn tại chỉ nhờ vào nguồn cung cấp Chronographe Suisse, nó cho phép lắp ráp và sửa đổi mặt số đơn giản, họ chỉ cần có vậy để tồn tại - thực sự mà nói thì đây là một khởi đầu không hề tồi cho các doanh nhân mới có hoài bão.

SƯU TẦM

Ở thời hiện tại, cho dù là Chronographe Suisse hay một cái tên khác bạn chưa từng nghe đến, thì dòng sản phẩm này cũng rất phổ biến với những tay mới bắt đầu sưu tầm Vintage, hay kể cả những nhà sưu tầm dày dạn kinh nghiệm. Các mẫu vỏ vàng 18k có thể bán được với cái giá hơn 3.000 EUR, và không khó để tìm ra các mẫu vàng có giá thấp hơn dưới 2000 USD ( việt nam tầm trên dưới 20 triệu thôi, mấy ông tây làm giá bỏ mẹ). Bản thân tôi cũng đang sở hữu một mẫu vỏ vàng, size 37mm từ những năm 1950 trong điều kiện rất tốt với cái giá dưới 1000 EUR. Nó sử dụng máy Landeron Calibre 48, hai ô phụ ở góc 3 giờ và 6 giờ, không hề tệ cho một chiếc đồng hồ Thụy Sỹ Vintage.

Bộ vỏ vàng rất mỏng, mỏng đến bất thường đi kèm bộ tai càng dạng rỗng, bạn sẽ cảm thấy nó cỏ vẻ ít chi tiết hơn. Kém bền hơn so với các nhãn hiệu có tiếng khác. Cỗ máy Landeron cũng sẽ khiến bạn tốn kha khá tiền bảo dưỡng. Có rất nhiều chiếc Chronographe Suisse bằng thép được bán với giá dưới 500 EUR, vì vậy bạn sẽ không cần phải bỏ ra một số tiền lớn nếu bạn bị thương hiệu này mê hoặc.

CHRONOGRAPH SUISSE TRONG THẾ KỈ 21

Sự hồi sinh nho nhỏ dành cho nhãn hiệu Chronograph Suisse đã diễn ra vào năm 2010, với chiếc CHRONOGRAPH SUISSE MANGUSTA SUPERMECCANICA STUPENDA ( vãi cả tên dài như con rắn), không giống với bản gốc vốn tập trung làm đồng hồ thời trang, đi kèm kính Acrylic và vỏ nhẹ tênh, chiếc đồng hồ mới sử dụng kính saphire nguyên khối, vỏ thép nặng với đường kính lên tới 45mm, khả năng chịu nước lên tới 200M. Cỗ máy bên trong có tên là Calibre 26, có nguồn gốc từ ETA 2894-2 với 37 chân kính, vận hành ở tần số 4Hz, trữ cót 42 giờ. Giá bán khởi điển từ 5000 USD và đắt nhất là 8000USD. Hiện nay giá bán rơi vào khoảng 3000 USD ( hàng cũ).

Giữa phiên bản mới và bản cũ là sự khác nhau của 2 trường phái, đó là những khái niệm khác nhau dành cho những đối tượng khác nhau. Cá nhân tôi sẽ lựa chọn một chiếc Chronographe Suisse vintage với cỗ máy landeron 48 vỏ thép. Tôi cho rằng đó là sự kết hợp tốt đẹp nhất và hợp túi tiền nhất.

Tên thương hiệu trên mặt số đối với tôi không quá quan trọng - thực tế thì tôi biết có khá nhiều nhà sưu tập rất ghét điều này. Vài thập kỉ tồn tại của dòng sản phẩm Chronographe Suisse không phải là một chương nổi tiếng trong lịch sử chế tạo đồng hồ, đặc biệt là ở Bắc Mĩ. Nhưng đã có hàng ngàn chiếc đồng hồ kiểu này đã được sản xuất, và nó không chỉ mang lại cho ta một cái nhìn thú vị về chế tạo đồng hồ thời kì tiền thạch anh ( trước 1969) mà còn cung cấp cho các nhà sưu tập đồng hồ Vintage một loại sản phẩm có giá thành rất phải chăng!

THÔNG TIN BỔ SUNG BÊN LỀ ( SƯU TẦM)

Những chiếc đồng hồ Chronographe Suisse mang tính chất làm thỏa mãn nhu cầu về đồng hồ bấm giờ giá rẻ trong thời đại của chúng : thời hoàng kim từ những năm sau thế chiến 2 tới những năm 60. Những chiếc đồng hồ này phải được sản xuất với tiêu chí CÀNG RẺ CÀNG TỐT, đa số chúng sử dụng máy Landeron ( 47/48/51/148/248 - có người cho rằng số lượng máy Cal.51 là nhiều nhất). Nếu bạn nhìn thấy mặt số có chứa hai ô phụ ở góc 3 giờ và 9 giờ thì rất có thể chiếc đồng hồ đó sử dụng máy Landeron. Hơn 3 triệu đồng hồ sử dụng máy Landeron đã được sản xuất, các bộ phận phần lớn có thể thay thế lẫn cho nhau, nguồn cung phụ tùng cũng rất dễ tìm.

Hầu hết đồng hồ dùng máy cũ hơn (47/48/51) không được trang bị hệ thống chống sốc kiểu như " incabloc". Nếu có thì chỉ áp dụng cho cal.148 và 248. Có một số lượng nhỏ đồng hồ sử dụng máy Venus 170 - áp dụng với mặt số hai ô phụ tại 6 và 12 giờ. Những chiếc này sẽ đắt hơn những chiếc dùng máy Landeron.

Việc sản xuất tối giản hết cỡ xét trên phương diện kinh tế đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bộ vỏ, vỏ được mạ crom hoặc mạ vàng với chất liệu đồng thau, vỏ này được làm dựa trên nền thép - " base metal", một số loại cao cấp sử dụng vàng khối. Tuy nhiên, vì lí do tạo ra chiếc đồng hồ có giá cả phải chăng, bộ vỏ bằng vàng nguyên khối cũng khá là mỏng, sử dụng tai càng rỗng - nó làm bằng cách uốn cong các lá vàng cho ra một hình dạng chính xác - do đó các bộ vỏ vàng đều sử dụng một nắp bằng thép bên trong.

Thursday, May 16, 2019

ANDREAS STREHLER PAPILLON SAUTERELLE À LUNA EXACTE - ĐỒNG HỒ MOONPHASE CHINHA XÁC NHẤT MỌI THỜI ĐẠI

* biên dịch bởi lê hoàng thạch*

Thợ làm đồng hồ có bản tính như những người đàn ông. Khi nói đến những con số, họ luôn muốn trở thành người đầu tiên hoặc có thành tích tốt nhất - ngay cả khi nó đắt nhất ( đối với đồng hồ) cũng chưa chắc là điều mà họ mong muốn. Các nhà sản xuất luôn kiếm tìm những chiếc đồng hồ phức tạp nhất, cỗ máy chính xác nhất hay bộ vỏ nhẹ nhất. Và ngay cả khi nhắc đến sự phức tạp cụ thể nào đo - thì việc lập luận rằng nó " chính xác nhất" cũng là một phương thức tiếp thị rất tốt - dĩ nhiên trong đó cũng phải bao hàm sự phát triển tuyệt vời củ kĩ thuật và kĩ nghệ chế tác đỉnh cao. Xét riêng về lịch tuần trăng, danh hiệu " chính xác nhất" đã thuộc về tay Andres Strehler, và ngay bây giờ sản phẩm của anh ấy sẽ còn tốt hơn với mẫu mới ra mắt này!

ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA MOONPHASE

Một bộ lịch tuần tuần trăng là gì? Đó chính xác là chức năng tái tạo lại tuổi của mặt trăng, thông qua bộ bánh xe với 59 răng ( 2×29.5 ngày), mỗi ngày nhích lên một răng. Có hai hình mặt trăng truyền thống xuất hiện thay phiên nhau trong một đĩa quay dạng tròn. Tuy nhiên, " tháng đồng bộ" - hay chính xác là chu kì mặt trăng có thể quan sát được, có độ dài trung bình là 29,530587981 ngày ( 29 ngày 12 giờ 44 phút 2.80 giây). Do đó tròn hầu hết những đồng hồ có chứa moonphase - chưa chính xác lắm và cần phải điều chỉnh lại sau 2.5 năm vận hành. Đó là phiên bản trăng sao loại thường, thực tế đã xó nhiều nhà sản xuất cố gắng cải thiện độ chính xác của cơ chế này, ví dụ đơn cử dưới đây :

1. Arnold & son HM perpetual Moon : chính xác tới 122 năm ( kèm tính năng rất thực tế ở mặt sau)
2. Moser Endeavor Moon : lệch một ngày sau 1.027 năm
3. A.lange & Sohne Richard Terraluna : lệch một ngày sau mỗi 1058 năm.
4. Ouchs Und Junior moonphase : lệch một ngày sau 3478,27 năm.
5. Christiaan Van Der Klaauw Real Moon Joure : lệch một ngày sau 11.000 năm

Tất cả đều vô cùng ấn tượng, trên thực tế chúng chính xác tới nỗi nó sẽ.... Bị hỏng, bị mất, bị hủy .... Trước khi cần điều chỉnh lịch moonphase - trong điều kiện nó chạy liên tục và bạn còn sống ! Dù thế nào đi nữa, đây vẫn là một cuộc đua về những con số cho chiếc đồng hồ Moonphase chính xác nhất. Và trong cuộc đua này, kẻ đang nắm giữ danh hiệu thực sự - thậm chí có tên trong sách kỉ lục Guiness thế giới : là Andres Strelher, với chiếc Sauterelle à Lune Perpetuelle 2M. Hãy nghe kĩ : chiếc đồng hồ Moonphase này có độ chính xác trong 2,060 triệu năm tới! Và có lẽ khái niệm về " đồng hồ " như kiểu ngày nay đã biến mất vào thời điểm bạn thực hiện lần điều chỉnh đầu tiên!

Không hài lòng với độ chính xác này, Andreas Strehler đã mang tới một phiên bản mới của Papillon Sauterelle À Lune - thực tế là vẫn giữ nguyên độ chính xác, nhưng đã có sự thay đổi về phương thức điều chỉnh tuổi mặt trăng cho dễ dàng chuẩn mực hơn.

ANDREAS STRELHER PAPILLON SAUTERELLE À LUNE EXACTE

Chiếc đồng hồ mới vẫn giữ nguyên độ chính xác như cũ : sai lệch một ngày sau 2.060 triệu năm. Điểm cải tiến ở bản mới, chính là tăng khả năng điều chỉnh cho dễ dàng hơn về hiển thị mặt trang và độ chính xác các thông số trên mặt số.

Thực tế là các chỉ số moonphase thường không thể đọc hay thiết lập một cách chính xác, do không có thang đo bên cạnh moonphase trong hầu hết đồng hồ loại này, người đeo phải tự mình phán đoán chính xác các pha mặt trăng hoặc tuổi mặt trăng ( một số thương hiệu đã tìn ra giải pháp là Arnold & Son). Do đó. Việc cài đặt chính xác chỉ báo pha mặt trăng chỉ có thể dựa vào trăng mới hoặc trăng tròn. Một vấn đề khác nữa đó là tính dễ đọc của moonphase, sự vắng mặt của các thang đo khiến bạn chỉ có thể tự đoán về tuổi mặt trăng mà không thể biết chính xác. Và đây chính là thế mạnh của chiếc đồng hồ Andreas Strehler, với một chi tiết rõ ràng và đơn giản mọi nhu cầu : sử dụng thang đo Vernier ( đã được cấp bằng sáng chế).

GIẢI PHÁP HỮU HIỆU CHO " ĐỘ CHÍNH XÁC" VÀ " DỄ ĐỌC" : THANG ĐO VERNIER

Tại vị trí 6 giờ, Chiếc Andreas Strehler được trang bị một cơ chế mới, cùng với thiết kế lẫn độ hoàn thiện mới, khiến nó trở nên khác biệt hẳn so với bản cũ. Bộ thang đo dạng kép này có tên là Vernier, nó cho thấy tuổi của mặt trăng tính theo Ngày và Giờ. Do đó, nó sẽ rất hữu ích vì 2 lý do : trước hết, chiếc đồng hồ sẽ trở nên chính xác hơn về mặt hiển thị. Tất nhiên độ chính xác về tổng thể vẫn giữ nguyên, nhưng về bản chất, đồng hồ sẽ cung cấp một chỉ dấu chính xác hơn nữa về tuổi củ mặt trăng, không phải đến ngày gần nhất. Mà là 3 GIỜ GẦN NHẤT. ( ghê gớm).

Thứ 2, thang đo Vernier này sẽ làm cho việc điều chỉnh pha mặt trăng trở nên cực kì đơn giản và chính xác. Khi bạn biết chính xác tuổi của mặt trăng ( có thể tìm thấy trên internet), bạn chỉ cần điều chỉnh, thông qua núm vặn. Phần hiển thị của Moonphase dưới sự trợ giúp của thang đo Vernier được đặt ở phía bên trái mặt số, trong một cửa sổ hình bán nguyệt.

Trên thang đo tuổi mặt trăng độ chính xác cao này, sẽ có một mũi tên màu đỏ biểu thị tuổi của mặt trăng tính theo ngày. Hai dấu đỏ trên thang đo hiển thị " trăng mới" và " trăng tròn". Bên trong cùng, ta có một thang đo làm tăng độ chính xác lên tới 3 giờ ( mỗi mức cách nhau 3 giờ), công dụng của nó có thể tóm tắt như sau :

1. Mũi tên màu đỏ chỉ tuổi mặt trăng tính bằng ngày

2. Nếu mũi tên chỉ vào một con số nằm trong phần màu vàng của vòng bên ngoài, thì giá trị giờ ở vòng bên trong cũng phải lấy ở con số nằm ở phần màu vàng - con số đó sẽ được lấy khi vạch trong và vạch ngoài thẳng hàng : ví dụ như trên ảnh thứ 2 hiển thị 5 ngày 18giờ : ta thấy mũi tên đỏ chỉ ở phần màu vàng ở mức 5 giờ hơn, sau đó quan sát bên vòng thứ 2, ta thấy ở phần màu vàng, số 18 có vạch thẳng hàng với một số ở vành ngoài thì ta lấy số đó là tuổi mặt trăng theo giờ - tức là 5 ngày 18 giờ.

3. Cách tính tương tự cũng được áp dụng nếu mũi tên chỉ mức ngày ở phần màu xanh.

Điều khiến chiếc đồng hồ này trở thành chiếc Moonphase chính xác nhất từng được tạo ra bởi lý do : nó là sự kết hợp giữa sai số cực thấp với tính dễ đọc cực kì chính xác đến tận mốc giờ, là sự kết hợp giữa tính chính xác tuyệt vời của cơ chế cài đặt.  Đôi khi độ chính xác cực cao trong chế tạo đồng hồ lại tới từ những phương pháp rất đơn giản, và cần một chút thông minh để động não - thật sự chúng ta cần dành tặng cho chiếc đồng hồ này một tràng pháo tay thật lớn.

KĨ NĂNG HOÀN THIỆN VÀ CÔNG NGHỆ

Đây là một chiếc đồng hồ rất phức tạp xét về mặt kĩ thuật, ngay cả khi nó chỉ hiển thị giờ, phút và giai đoạn mặt trăng.các cơ chế đằng sau nó rất ấn tượng , trước hết, chiếc đồng hồ này có một thứ rất hiếm thấy, một chi tiết rất phức tạp : REMONTOIR D'ÉGALITÉ

Cơ chế này - có vẻ rất quen thuộc với người hâm mộ của hãng FP Journe - nó cung cấp một lực liên tục cho bộ thoát, giải quyết một vấn đề lớn cho đồng hồ có nguồn dự trữ năng lượng cao. Đúng như vậy, lò xo càng mạnh , dự trữ năng lượng sẽ càng dài, nhưng điều này sẽ nảy sinh một vấn đề khác : lò xo càng mạnh thì mô men xoắn càng không ổn định, khi đầy cót, mô men xoắn ở mức cao, khi gần hết cót thì mô men xoắn lại thấp. Một cơ chế Remontoir ( gọi là rờ - mông - toa) sẽ có nhiệm vụ làm trơn tru việc cung cấp mô men xoắn, bằng cách lưu trữ và cung cấp nó cho bộ thoát đều đặn mỗi giây với lực chia đều. Do đó, trên lý thuyết thì đồng hồ sẽ có cùng biên độ trong toàn bộ phạm vi dự trữ năng lượng. ( tức là vận hành đều đặn chính xác cả khi đầy cót lẫn khi gần hết cót - xin nhắc lại đấy là lý thuyết).

Tuy nhiên, hệ thống của Andreas Strehler có một chút khác biệt. Thông thường, Remontoir sẽ tác động lên bánh xe thoát. Tuy nhiên đây lại là vị trí có ít mô men xoắn nhất trong toàn bộ cỗ máy, vì lý do này, Remontoir D'égalité của Andreas Strehler sẽ được gắn vào bánh xe thứ 2 hoặc thứ 4. Do đó toàn bộ bộ thoát, bao gồm cả bánh xe thoát, bộ dao động sẽ không có bất kì ảnh hưởng nào.

Bên cạnh những thành tựu kĩ thuật, còn có vẻ đẹp tuyệt vời đến từ kĩ thuật hoàn thiện máy. Chiếc đồng hồ đã mô tả lại hoàn hảo những gì được gọi là kĩ nghệ chế tác đồng hồ cấp cao - haute horlogerie. Mỗi một bộ phận đều được sản xuất và hoàn thiện mộ cách cẩn thận, và dĩ nhiên đều làm thủ công bằng tay. Phần mặt số, trong bức cận cảnh bên dưới, bạn có thể thấy rằng tất cả các cạnh của các bộ phận đều được vát vành đánh bóng - ví dụ như cánh tay của bánh xe tam giác trên đỉnh Remontoir, được làm bóng mờ. Cây cầu giữ các thùng có các góc lõm và rất sắc nét - một thứ kĩ nghệ mà không loại máy móc nào có thể làm được. Tất cả các bánh răng tới ốc vít nhỏ nhất đều làm rất trau chuốt.

mẹt sau củ cỗ máy còn thể hiện ra nhiều hơn. Cả công đoạn hoàn thiện lẫn thiết kế đều rất ấn tượng. Bộ chuyển động dựa trên một cây cầu chính, có hình dạng con bướm đặc trưng có thể tìm thấy trong hầu hết đồng hồ của Strehler. Nó được đánh vân tròn, vân sọc thủ công, có nhiều góc lõm. Đỉnh cao hiện ra là những bánh xe màu vàng, với những nan hoa được uốn cong và vát cạnh tinh tế được thực hiện bằng tay. Đây là những chi tiết tuyệt vời msf bạn sẽ hiếm khi được bắt gặp, kể cả trên những mẫu cao cấp khác. Tóm lại, đây thực sự là một " bữa tiệc " cho các tín đồ đam mê cơ khí.

TỔNG KẾT

Chiếc đồng hồ này hội tụ những thứ hoàn hảo  từ các nghệ nhân chế tạo độc lập : có sự đổi mới ( thang đo Vernier), có giải pháp cơ học tuyệt vời ( Remontoir D' égalité ) và một thiết kế độc đáo, đi kèn với kĩ thuật hoàn thiện bậc cao - cũng như tính độc quyền. Chiếc đồng hồ này không quá lớn, không quá cực đoan, cũng không quá phức tạp trong việc sử dụng hoặc để hiểu được nó. Vẻ đẹp này đi kèm với một mức giá cao nhưng rất xứng đáng : 112.000 Franc Thụy Sỹ cho bản vàng đỏ. Và 125.000 Franc Thụy Sỹ cho bản bạch kim.

Chiếc đồng hồ này đã được lựa chọn cho giải GPHG ( Osca trong ngành đồng hồ) trong hạng mục " Calendar" cùng với 13 chiếc đồng hồ khác, và nó thật sự xứng đáng để dành được một giải thưởng nào danh giá nào đó.

THÔNG SỐ KĨ THUẬT

VỎ : 41×37 mm, dày 10mm - bằng vật liệu vàng đỏ hoặc bạch kim 950 - kính saphire hai mặt - chống nước 30m.

MÁY : Calibre Sauterelle Lune Exacte, in-house, lên dây tay, 78 giờ trữ cót, tần số 21.600 VPH, tính năng giờ, phút, Remontoir D'égalité kèm thang đo Vernier.

DÂY ĐEO : cá sấu khâu tay kèm khóa bằng vàng hoặc bạch kim tùy phiên bản.

TRÊN TAY BỘ BA SIÊU PHẨM JAEGER LECOULTRE

*biên dịch bởi Lê Hoàng Thạch*

Đây là một bộ ba siêu phẩm đồng hồ, thuộc dòng Ultra-thin ( siêu mỏng) của Jaeger lecoultre. Chúng được giới thiệu tại triển lãm kĩ nghệ chế tạo đồng hồ cấp cao SIHH năm 2019, mỗi chiếc đồng hồ đều được đặt trong một bộ vỏ vàng trắng, mặt số đánh vân Guilloche tráng men màu xanh, chúng được gọi là " Grand Maison" - một lời nhắc nhở về sự tồn tại của sức mạnh JL - khi mà rất nhiều tên tuổi lớn trong ngành đồng hồ đang sử dụng các cỗ máy mua ngoài.

MASTER ULTRA THIN TOURBILLON ENAMEL

Đây là một chiếc đồng hồ sản xuất giới hạn chỉ 50 chiếc, với tính năng xem giờ kèm lịch ngày trong tháng. Cỗ máy bên trong được làm dựa trên nền Calibre 980, đã được tinh chỉnh lại về kĩ thuật cũng như thẩm mĩ. Mặt sau của Cal.97F mới được hoàn thiện dạng chải tia mặt trời, với trọng tâm phần chải tia là từ cỗ tourbillon. Nó có khả năng trữ cót tới 48 giờ - lớn hơn 10 giờ so với bản tiêu chuẩn chỉ có 38 giờ. 10 tiếng dù không phải là sự khác biệt lớn ( với người dịch thì như vậy là quá lớn) nhưng nó khiến cho phần trữ cót lớn thêm 25% độ dài. Chiếc đồng hồ này có kích thước dày 40mm × 12,3mm, không mỏng nhue những cỗ tourbillon được tung ra thị trường gần đây, nhưng chắc chắn vẫn khá mỏng cho một cỗ máy tự động toàn phần ( full rotor) kèm mặt số tráng menGulloche thủ công rất có chiều sâu. Bộ kim dạng Dauphine rất đẹp và sắc nét.

Như bạn đã thấy trong ảnh, phàn mặt sau bao gồm một cỗ máy được trang trí rất độc đáo, bộ bánh đà lên cót bằng vàng đã được khoét bỏ bớt, giúp làm lộ ra nhiều chi tiết máy hơn nữa.

MASTER ULTRA THIN PERPETUAL ENAMEL

Tiếp theo, chúng ta sẽ đến với mẫu Master Ultra thin Perpetual Enamel. Chiếc đồng hồ này là một bản nâng cấp từ cỗ máy JLC 868 : JLC 868A/2. Nếu so sánh với thế hệ trước, thì hầu hết các ô chức năng đã bị đảo ngược lại 180 độ. Mẫu hiện tại, ô lịch tuần trăng đã được đẩy xuống góc 6 giờ, đồng thời bổ sung thêm một kim gắn vào để đọc thông số ở một trong 2 bán cầu.( trăng ở hai bán cầu bắc nam là không giống nhau). Phần chỉ báo " năm hiện tại" đã có thể được xem thông qua 2 nhỏ, nằm trong phần lịch tháng ( góc 12 giờ), trong khi bản cũ nó sẽ nằm ở một cửa sổ duy nhất ở góc giữa 7-8 giờ. Tôi cho rằng phiên bản mới trông cân xứng hơn.

Cũng như bản cũ, phiên bản mới có bộ vỏ 39mm rất thoải mái, độ dày tăng nhẹ từ 9.2mm lên 10.44 mm. Tất nhiên, đồng hồ mới được hưởng lợi từ mặt số tráng men phức tạo hơn, và tôi cho răng mức tăng nhỏ về độ dày là có thể chấp nhận được, dựa trên những gì bạn thu được về vẻ đẹp của mặt số. Đồng hồ cũng tang vấp đôi về khả năng trữ cót, từ 38 giờ lên tới 70 giờ. Chiếc Master Ultra-thin Perpetual Enamel được sản xuất giới hạn 100 chiếc.

MASTER ULTRA THIN MOON ENAMEL

Và cuối cùng, chúng ta có sản phẩm Master Ultra Thin Moon Enamel. Giống như hai chiếc đồng hồ khác trong loạt sản phẩm giới hạn này, nó sở hữu bộ vỏ bằng vàng trắng, mặt số tráng men Guilloche. Như tôi đã đề cập trước đó, mẫu đồng hồ này đi kèm một cỗ máy in-house : Cal.925/2, với khả năng trữ cót lâu hơn mặt dù vẫn sử dụng một ổ cót duy nhất và duy trì mức tần số tiêu chuẩn 28.800 VPH. Điều này có nghĩa là xét trên mặt lý thuyết, bạn có thể sử dụng nó để đeo hàng ngày trong tuần, sau đó chuyển qua đồng hồ thể thao và quay lại với chiếc cũ mà không cần đặt lại thời gian hay moonphase vài sáng thứ 2.

Phiên bản giới hạn 100 chiếc này có đường kính 39 mm và chỉ dày hơn 1cm, ở mức 10.04mm. Nó đi kèm với một bộ dây đeo cá sấu màu xanh.

Giá bán cho từng phiên bản kể trên cụ thể là :
35.800 đô la cho chiếc moon , 55.00 đô la cho chiếc lịch vạn niên trăng sao, và 88.500 đô la cho chiếc tourbillon

Monday, May 13, 2019

NHỮNG ĐẠI KÌ CÔNG CỦA ROLEX

Ừm, nói thật các bác, Rolex là hãng đồng hồ cao cấp vĩ đại mà tui ghét nhất! Nói trắng ra lí do là vì nó có nhiều con làm vỏ quá chán so với giá tiền ( trừ vàng đúc ra nhá). Ơ mà đấy là quan điểm cá nhân thôi - với lại hãng nào mà tui chả chửi kể cả thích hay không ))), nhưng không phải vì thế mà tui vùi dập như đập tỏi khô nhá! Sau đây là vài quả kì công có thể gây mát lòng mát ruột anh em fan hâm mộ - mát theo kiểu đúng sử nhé các bây bê :

1. Tạo ra bộ vỏ Oyster và ..... Lăng xê nó thành công (1926-1927) : cách đây vài năm có ông tướng nào lên truyền hình và phát biểu câu : " rolex đi lên nhờ sản phẩm chứ không lên nhờ... Quảng cáo" , nghe xong tí phọt cơm vào màn hình))) ối zồi đất mẹ ơi rolex nó trùm quảng cáo đấy các bác ạ! Năm 1926 oyster được cấp bằng, như bao bằng sáng chế khác ở thụy sỹ nhưng năm sau, khi hay tin một cô nàng đánh máy thất nghiệp chán đời có cái tên giống với xe mẹc đòi bơi qua kênh đào anh quốc - đất tổ nhà rolex thế là anh Rolex tặng free " trong sáng" ngay chị ấy 1 quả oyster đeo cho nó cản thêm sóng)) sau 15 giờ bơi lóp ngóp thành công, thật tình cờ và bất ngờ... Toàn bộ trang nhất tờ daily mail london đã đăng tải toàn bộ chiến công lẫn con đồng hồ - và anh em biết ai chi tiền mua toàn bộ mấy trang đó rồi chứ ))) ấy, nói thế ko phải châm chọc mà tôi đang khen cái nghệ thuật bán hàng đỉnh cao vô tiền khoáng hậu - cái mà các hãng ngày nay vẫn còn phải học dài dài! Và nhờ thiết kế này mà chính hãng rolex và nhiều hãng khác đã tạo ra những chiếc đồng hồ lặn biển đỉnh nhất lịch sử!

2. Tạo ra PERPETUAL ROTOR (1933) : nhắc đến cái này, đợt lên youtube tôi tí nữa phụt mắm vào màn hình vì có thanh niên tuyên bố " lịch vạn niên rolex"! Thực tế đây là một cải tiến của Rolex liên quan đến cơ chế tự động lên cót cho đồng hồ đeo tay - một đóng góp vô cùng quan trọng vì thời đầu, đồng hồ tự động chỉ quay được hơn 200 độ và ban bật trở lại nhờ lò xo - bumper hay còn gọi là lọc cọc. Cơ chế này giúp rotor quay đủ 360 độ và lên cót ổn định hơn - cơ mà chưa xong đâu, còn cơ số thằng nữa đóng góp cơ , nhưng thế này là vĩ đại rồi! Và cũng kèm theo đó là hình ảnh rất xấu xí của rolex khi sau đó, hãng này tự bốc phét và đăng tải lên báo chí rằng mình là người ... Đều tiên chế tạo ra đồng hồ tự động, rồi ... Áp dụng nó thành công lên đồng hồ đeo tay!!! Trong khi cha đẻ của cơ chế bumper đang sống nhăn răng và trợn mắt lườm thằng đồng hương khốn lạn)) Sau đó rolex phải gỡ luôn và xin lỗi công khai, nhưng báo hại lũ con cháu sau này vẫn cứ ra rả " ROLEX LÀ NHÀ SÁNG CHẾ ĐẦU TIÊN RA AUTOMATIC" )))

3. TẠO RA ĐỒNG HỒ PANERAI : ít ai biết rằng, rolex là hãng góp công rất sâu vào quá trình hình thành nên đồng hồ panerai. Ngày xưa, thằng panerai chỉ là đơn vị gia công dụng cụ lặn cho mấy anh hải quân ý, quá lắm là kính, mũ rồi nồi hơi cho các anh đặc công ý lặn biển coi trộm mông chị em tắm tiên, đùng cái oánh lộn lùm pheng ở thế chiến 2 - panerai trúng thầu mần đồng hồ, nhưng với bản chất phế vật vốn thấy như ở quân đội, hãng này nhờ cậy đến " đại ca" rolex - chuyên gia đầu bảng về đồng hồ lặn))) thôi thì có tiền là ... Anh làm! Rolex bê nguyên cái vỏ con hàu đời đầu, áp luôn bộ máy cho đủ rồi vứt cho panerai - ấy chính là tiền thân của Radiomir sau này và tồn tại cho tới nay! Và ở thời điểm hiện tại, Panerai đã trở thành hãng vô cùng nổi tiếng với thiết kế cục sục bậc nhất địa cầu! Và ko biết còn có nhớ đến thằng đại ka năm nào không nữa)))

4. NHỮNG THIẾT KẾ KINH ĐIỂN : phần này thì mình nói sơ sơ tí thôi, thiết kế rolex quá đỉnh, tồn tại qua nhiều năm tháng không lỗi mốt, bị nhái vô tội vạ bởi anh béo hàng xóm nhà ta. đến cả vua thiết kế Gerald Genta cũng phải thốt lên rằng đó là thiết kế chuẩn mực cho đồng hồ thì các bố miễn bàn đi!!

5. TỒN TẠI QUA KHỦNG HOẢNG THẠCH ANH VÀ NÓI KHÔNG VỚI QUARTZ ! : à, thực ra nói " không" hẳn thì cũng chưa đúng lắm! Ở thời kì đầu, Rolex cũng dồn tiền ( cùng với 16 công ty khác ) hùn hạo cho thằng bất trị Omega làm Quartz - chính là máy beta-21 đầu tiên của Thụy Sỹ. Sau thấy thằng kia mình trị mãi không được gặp thằng nhật nó đập cho lòi dom thì cũng hãi lắm!! Cũng tự nghiên cứu một thời gian cơ mà sau thấy món này liều quá nên thôi. Kiên quyết đi theo con đường cơ khí và trụ lại tới nay! Thực tế mà nói thời kì lịch sử này Rolex giấu kĩ lắm - nghe đâu rút bớt vốn rồi đầu tư thêm bất động sản, tìm mỏi mắt ko ra. Nhưng mà tóm lại, mặc cho cả lũ kia phá sản, lây lất, thì Rolex vẫn là một trong số ít tay chơi còn tồn tại qua cuộc khủng hoảng cùng với Patek hay AP - một lịch sử tiếp nối liên tục đã đủ nói lên khả năng điều hành quá khéo léo của Rolex!

Nói về Rolex thì còn nhiều nhiều thứ, về những chiếc đồng hồ lặn, những chiếc daytona, ...vân vân và mây mây, có nói đến sáng không hết. Nhưng xét trên bình diện ảnh hưởng toàn ngành công nghiệp, rõ ràng những chiến công kể trên là rất đáng nể và nó khiến người ta hâm mộ tột cùng. Là một hãng đầy danh tiếng nhưng không thiếu tai tiếng, đầy kiêu hãnh nhưng cũng vô cùng mưu mẹo, vừa liều lĩnh vừa thân trọng! Ấy, những mảng đối lập ấy mới có thể tạo ra một vị vua bậc nhất trong giới đồng hồ ! Và ở việt nam, đâu đó vẫn có tiếng kêu vang khiến các tay chơi hốt hoảng :" Rolex lịch vạn niên")))

Friday, May 10, 2019

(HÀI HƯỚC) SWATCH - ANH HÙNG ÁO VẢO CỦA THỤY SỸ !

Ờm, tình hình là sau khi nạp một đống panadol, bệnh tình của Ad đã đỡ mệt hơn, tỉnh táo hơn, ngón tay đã có thể gõ được, nên rảnh rỗi gõ vài chữ hầu các anh em!

Nhắc đến " anh hùng áo vải" chắc nhiều thím ở đây sẽ liên tưởng đến ai đó rất vĩ đại ở xứ đông lào, đi lên từ tầng lớp thấp kém ( so với vua chúa thôi nha chứ mấy anh Tây sơn toàn thổ hào đó) mà lên tới tột đỉnh vinh quang. Ấy cứ ngỡ nó chỉ có ở xứ Đông Lào, nào ngờ đâu ở bên Tây lông, trong giới đồng hồ cũng có một câu chuyện y chang thế! Nếu bạn không tin, xin hãy xếp bằng chân nhâm nhi miếng dồi chó, nhá miếng lòng lợn luộc mà nghe tôi kể đây!

Ấy là cái hồi đầu thập niên 1980, khi đó ở bên Thụy Sỹ, các hãng đồng hồ đang rối ren zữ lắm! Vì ăn phải bả của cái tụi nhật lùn mà phá sản hàng loạt, đồng hồ ma cũng không thèm mua vì vừa đắt vừa kém. Hai liên minh lớn nhất Thụy Sĩ là SSIH và ASUAG, một ông nói tiếng Đức và một ông nói tiếng Pháp đũy, bình thường chọi nhau như chó với mèo, cắn nhau không trượt phát nào, đến lúc này cũng mệt vì đói tới nỗi lè lưỡi ra mà liếm vào mặt nhau cũng không nổi nữa))) thậm chí đến cái cách phá sản cũng phải sát nhau mới chịu ! năm 1981, SSIH đệ đơn xin các anh ngân hàng đẹp giai cứu trợ vì không trả nổi lương cho công nhân, năm sau 1982, đến lượt ASUAG cũng .... Đệ đơn lên ngân hàng xin cứu tế!!

Ngân hàng Thụy sĩ, mặc dù đẹp giai ví dầy, nhưng vì các em ăn chơi quá anh không kham nổi, nên lúc này các ngân hàng đồng ý xuất tiền với điều kiện : thuê một người trung gian xử lí khủng hoảng. Người được thuê có tên là NICOLAS HAYEK - một tay chơi máu mặt người Li Băng đã từng cứu nét bao nhiêu em xinh tươi, đẩy các em từ hàng sập xệ lên thành hàng tuyển. Nói chung tình thế lúc này bi đát lắm, một bên mấy thằng nhật lùn đang hả hê, bên kia thụy sỹ đang trúng bả hấp hối từng ngày, chỉ chờ bị thịt!

Nicolas hayek đã bắt cả 2 thằng đầu sỏ phải sát nhập với nhau, chó với mèo khó ăn chung một niêu cơm, cơ mà đánh mãi thì ngấm đòn nên đành ..  Sát nhập. Và sau đó, ông đã đề ra phương án điên rồ nhất lịch sử : sản xuất một chiếc đồng hồ thụy sĩ giá rẻ - rẻ vãi cả nồi để cứu giá, không chỉ rẻ mà còn phải thời trang, lòe loẹt, hợp mốt và dành cho các cháu trẻ trâu trẻ nghé - kiểu phải chảnh như anh Bảnh múa quạt ý thì các trẻ mới yêu - thay vì dành cho các tay chơi lắm tiền già khú đế! Khỏi phải nói, đề án này ra đời đã bị cả lũ tây lông mũi lõ bên dưới nhao nhao phản đối " bọn tao là người da trắng thượng đẳng, không bao giờ sản xuất đồ rẻ" , có đứa gào lên " từ lúc đẻ ra đến giờ tao chỉ sản xuất đồng hồ cho đại gia, bọn nhãi xì tuyn tao còn chả thèm để mắt tới!". Đối diện với đám đông gào rú như bị lên đồng, Hayek đập bàn nói " thượng đẳng là cái đếch gì?! Có ăn được không?! Có ... Ra tiền được không?! Có khỏi bị phá sản không?! Chốt lại ở đây tao là là sếp, đứa nào phản đối, tao đấm cho không trượt phát nào!!!". ( chuyện này là có thực, và còn có biểu tình nữa chứ ko đơn giản đâu)

Nhờ sự cương quyết của Hayek, dây chuyền sản xuất Swatch đã đi vào vận hành, đến năm 1983 thì bán chính thức - đó là một chiếc đồng hồ vỏ nhựa, rẻ thối và rất sặc sỡ và thời trang. Thực tế thì ban đầu chỉ bán ở Châu Âu thôi, vì ở Nhật, tụi nó đã tự coi là dân " thượng đẳng" nên cấm có xài đồng hồ Châu âu, bên Mĩ lại .... Cũng không dùng vì đang cặp với Nhật, khoái hàng Nhật hơn! Cơ mà không sao, gặp chuyên gia Hayek lo được hết, với tài năng thiên phú xoay sở, ông đã thuê một tay thiết kế thời trang, thiết kế đồng hồ swatch với tốc độ đẻ hơn gà đẻ trứng : 5 năm 350 mẫu thiết kế, nhờ đó mà Swatch bán chạy như tôm tươi! Ở quê nhà, mấy tay mũi lõ bảo thủ ban đầu lẩm bẩm chửi rủa Hayek " bọn bố sẽ chống mắt lên coi mày làm được cái trò trống gì! Đẹp giai thượng đẳng như bọn tao còn chết huống hồ cái thằng ngoại lai!".

Mà cái sự đời đến lạ, càng chống mắt lên xem, thì thấy ... Càng ra tiền))) càng nổi tiếng, thế nó mới lạ!! Chiến lược của Hayek đã thành công, ông ta đã khiến người nhật hốt hoảng và bối rối, dần bị đẩy lui thị phần ở nhiều nơi! Năm 1992, sản lượng của Swatch đạt 100 triệu chiếc, đến năm 1996 lên tới 200 triệu chiếc! Những tiếng chửi rủa đâu đó tại Thụy Sỹ nay đã dần im tiếng, chỉ thấy người ta hô vang " Hayek Vạn tuế! Hayek vạn tuế!!")))), mấy tay bảo thủ lẩm bẩm " ngày xưa cứ ngờ ngợ mình ngu, nay mới thấy đúng là .... Ngu thật"!! và tới năm 1998, quý ngài Swatch - Nicolas Hayek chính thức đổi tên tập đoàn SMH thành tập đoàn Swatch - trở thành tập đoàn đồng hồ lớn nhất thế giới!

Đồng hồ Thụy sỹ đã được cứu rỗi bằng một cách khó ai nghĩ tới! Cuộc đời lắm lúc rất éo le, bạn đúng nhưng nhiều người trong thời điểm nào đó vẫn sẽ chửi bạn , đám đông chưa chắc đã đúng, hãy cứ lẳng lặng mà làm, chóa cứ sủa còn bạn cứ đi là lẽ thường tình của bậc cao nhân! Thời gian sẽ chứng minh thành công của bạn, và khi bạn thành công, với sức mạnh trong tay, mọi đòn tấn công dù với bất kì tuyệt kĩ nào cũng chỉ là vô nghĩa ))))

LƯỢC SỬ HÃNG ĐỒNG HỒ CERTINA - CẶP MAI RÙA HUYỀN THOẠI!

* bài viết được thực hiện bởi Lê Hoàng Thạch*

Certina là một nhãn hiệu đồng hồ Thụy Sỹ giá rẻ rất nổi tiếng trên thế giới, và ngay trong tháng 5 năm 2019, hãng đồng hồ này đã chính thức đặt chân lên Việt Nam. Và để cho mọi người hiểu rõ hơn về nhãn hiệu đồng hồ " nhỏ mà có võ " này, mình xin phép tổng hợp và đưa ra bài viết tương đối hoàn chỉnh đầy đủ về hãng Certina, xin kính mời anh em thưởng lãm.

RA ĐỜI

Năm 1888, Certina được thành lập tại Grenchen bởi 2 anh em Adolf và Alfred Kurth, với cái tên tiền thân là Kurth Frères SA. Đây là một nhà máy sản xuất máy và linh kiện đồng hồ. Ban đầu, Certina chỉ có 3 nhân viên làm việc trong một nhà xưởng được kết nối với nhà chính của gia đình, ở thời kì đầu, công ty chưa sản xuất đồng hồ hoàn chỉnh, thay vào đó họ tiến hành làm máy đồng hồ cho các hãng khác. Năm 1897, họ hoàn thiện thêm nhà máy sản xuất mới. Chiến lược của anh em nhà Kurth là tạo ra các cỗ máy có chất lượng cao để bán cho các công ty đồng hồ có mặt trên thị trường - và nó đã hoàn thành tốt khi Kurth Frères SA trở thành nhà thầu cho các đơn vị đặt hàng cho ngành công nghiệp đồng hồ đang bùng nổ, phương châm của họ lúc này là " chất lượng tốt đi kèm giá thành vừa phải".

Vài năm sau đó, từ nhà máy nhỏ lúc đầu, họ đã dần chuyển thành một doanh nghiệp lớn hơn . Cho tới năm 1906 công ty mới bắt đầu tiến hành sản xuất đồng hồ hoàn chỉnh - bao gồm cả đeo tay lẫn bỏ túi, người chủ của công ty gọi chúng với cái tên " Grana" - một từ rút gọn của " Granacus" - tên theo tiếng latin của vùng đất Grenchen, Thụy sỹ - nơi thành lập nên Certina thời ban đầu. Certina cũng là một trong những nhà sản xuất tiên phong trong lĩnh vực đồng hồ đeo tay dù lúc đó đây chỉ là sản phẩm được đeo bởi nữ giới - với cái tên cũng là Grana. Các sản phẩm mang nhãn hiệu Grana được đánh giá cao ở hội chợ Milan, và cũng tại đây, anh em nhà Kurth đã được trao huy chương vàng danh giá.

Sau đó. Công ty cũng đã giành được nhiều giải thưởng uy tín : tại Brusel năm 1910 và tại Bern năm 1914. Bốn năm sau đó, vào năm 1918, nhà máy Kurth Frères SA đã biến thành một đơn vị sản xuất độc lập rất lớn, có khả năng tự sản xuất mọi thành phần của một chiếc đồng hồ - kể cả việc tạo ra các mẫu thiết kế chuyên biệt. Tới năm 1934, dưới tác động của đạo luật bảo vệ và điều tiết thị trường đồng hồ Thụy Sỹ ( Uhrenstatut) , nhà máy Kurth đã từ bỏ sản xuất máy bán thành phẩm, và tham gia mạnh mẽ hơn vào sản xuất đồng hồ, cũng như bán các cỗ máy đã hoàn chỉnh cho các khách hàng ở Thụy Sỹ và Mĩ.

Năm 1936, nhà máy Kurth bắt đầu tạo ra những chiếc đồng hồ rất độc đáo kì lạ : hiển thị giờ và phút thông qua các con số và các các ô tách biệt như trong ảnh. Mẫu đồng hồ thú vị này sử dụng các bộ đĩa cơ khí .

Cho tới năm 1938, công ty đã mở rộng hơn nhiều so với ban đầu, và sở hữu tới 250 nhân viên. Cũng trong năm này, công ty đã kỉ niệm 50 thành lập, và họ đã chọn một cái tên mới để sử dụng cho một nhãn hiệu đồng hồ hoàn toàn mới - và cái tên được chọn là " Certina", bắt nguồn từ chữ " certus" trong tiếng latin ( nghĩa là " chắc chắn") . Lý do nó được chọn bởi đây là một chữ có thể phát âm dễ dàng trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới. Ngay trong năm sau, tức 1939 thì nó được đăng kí chính thức và sử dụng song song với nhãn hiệu Grana in trên mặt số. Sau này vì lí do chi phí cao khi phải duy trì cả 2 tên, họ đã bỏ đi Grana và giữ lại Certina.

THẬP NIÊN 1940-1950

Đây là một giai đoạn đánh dấu nhiều bước phát triển vượt bậc cho hãng.

Trong thế chiến thứ 2, những chiếc đồng hồ thụy Sỹ, trong đó có cả đồng hồ của anh em nhà Kurth cũng đã tham gia phục vụ cho các bên tham chiến. Điển hình là những chiếc đồng hồ Grana dành cho phi công thuộc lực lượng không quân Hungary, đây là những chiếc đồng hồ đeo tay Chronograph, sử dụng cỗ máy mua ngoài Venus 175.

Năm 1947, Certina đã giới thiệu chiếc đồng hồ tự động đầu tiên của mình, nó sử dụng một cỗ máy Bumper ( hãm xung - hay còn gọi là tự động lọc cọc) tên mã là KF 360 Calibre - thực chất là máy AS 1323 mua ngoài ráp vào. Ngay trong năm sau - 1948, công ty đã tiến hành kỉ niệm 60 năm thành lập, lúc này họ đã có trong tay 350 nhân công, và bắt đầu mở chi nhánh nước ngoài đầu tiên tại Đức, song song với nhãn hiệu Certina, công ty vẫn sản xuất các sản phẩm dưới cái tên Grana nhưng doanh số cắt giảm dần và mất hẳn ( chưa xác định rõ bỏ luôn từ khi nào).

Nhận thức được tầm quan trọng trong vấn đề tự lực Movement, rất nhanh sau đó, vào năm 1951, Hãng Certina đã chính thức tung ra cỗ máy đồng hồ tự động toàn phần do họ tự phát triển, có tên là Calibre 25-45, tới năm 1953 Certina cung cấp thêm một cỗ máy tương tự có tên Cal 28-45, có cùng đặc điểm như máy cũ nhưng rộng hơn 3mm. Nếu tinh ý bạn sẽ thấy số đầu tiên trong kí hiệu máy chính là viết tắt của đường kính cỗ máy, tính bằng mm. Do sự ổn định và vận hành chính xác, tới năm 1954, hãng Hamilton một hãng đồng hồ lớn tại Mĩ khi đó đã tiến hành hợp tác mua máy của Certina về để lắp cho đồng hồ của họ - lý do là họ chưa thể tự sản xuất đồng hồ tự động, và sự hợp tác này diễn ra trong vài năm.

Năm 1955, công ty chính thức đổi tên từ Kurth Frères SA, Fabrique De Montres Certina thành Certina, Kurth Frères SA. Lúc này số lượng nhân viên đã tăng lên tới 500 người, cả văn phòng cho tới nhà xưởng, dẫn tới năng suất lao động rất tốt : sản xuất 1000 chiếc đồng hồ mỗi ngày. Xưởng sản xuất của Certina trở thành một trong những đơn vị được trang bị máy móc tốt nhất và hiện đại nhất trên thế giới thời đó, áp dụng những kĩ thuật rất tiên tiến và sở hữu một tiềm lực rất lớn. Mặc dù qua các năm, sự kiểm soát đối với công ty có sự thay đổi, nhưng cơ bản nó vẫn được quản lý bởi các thế hệ thuộc gia đình Kurth.

BẢO VỆ KÉP : DOUBLE SECURITY - CERTINA DS

Vào giữa những năm 1950, để chuẩn bị cho sự kiện kỉ niệm 70 năm thành lập công ty, Certina dự định sẽ tạo ra một loại đồng hồ mới mẻ độc đáo. Lúc này, thị trường đồng hồ đang cạnh tranh ngày càng khốc liệt, buộc các thế hệ lãnh đạo tiếp theo của Certina phải có những quyết định mạnh mẽ vượt ra ngoài khuôn khổ bình thường.

Thế hệ kế cận nhà Kurth : Hans và Erwin Kurth cùng với một nhóm các nhà thiết kế và kĩ sư đã quyết định tạo ra một model cực kì hữu ích, thiết lập nên các tiêu chuẩn mới về sức mạnh và chất lượng. Họ muốn trở thành kẻ tiên phong trong một phân khúc chưa từng ai sử dụng trước đây, mục tiêu rất rõ ràng là : tạo ra một mẫu có khả năng chống chịu mọi lực tác động, và trở thành sản phẩm lý tưởng cho tất cả các môn thể thao.

Những năm sau đó dưới sự giám sát liên tục của Hans và Erwin Kurth cùng với kĩ sư philipp Kurth - trưởng phòng kĩ thuật và là người chịu trách nhiệm chính của dự án, vô số các thí nghiệm đã được tiến hành : từ độ bền của vật liệu cho tới các giải pháp kĩ thuật khác nhau. Một mẫu đồng hồ mới, với khả năng chống chọi tác động bền bỉ cuối cùng đã ra đời vào năm 1958, và được đặt tên là Certina DS.

Hệ thống bảo về DS là một cuộc cách mạng trong giới đồng hồ vào thời điểm đó, hai chữ DS là viết tắt của từ Double Security/Double Safety. Đây là một phương pháp rất sáng tạo về thiết kế, khi họ đẩy cỗ máy vào trong một bộ thân vỏ chắc chắn được gia cố bằng thép không gỉ. Bí mật của hệ thống DS năm ở 3 thành phần chính của đồng hồ : thân vỏ ngoài, cỗ máy và mặt số không bao giờ chạm vào nhau. Các yếu tố này được ngăn cách với nhau bằng một miếng đệm cao su dày và một khoảng trống không khí giữa chúng. Certina đã phát triển một giải pháp " treo" cỗ máy theo cách rất đặc biệt - cho phép bộ máy bên trong có thể di chuyển tự do theo nhiều hướng khác nhau ( khi bị tác động lực), Mô hình Double Security mới có hệ thống hấp thụ sốc rất linh hoạt, cho phép cỗ máy di chuyển bên trong và có thể chịu được các tác động thậm chí rất mạnh.

Cỗ máy được đặt trong một bộ vỏ cải tiến và niêm phong 2 lần. Ngoài ra, kính được làm từ Mica dày hơn 4 lần so với mức tiêu chuẩn, nắp đáy được gia cố đặc biệt chắc chắn hơn. Tất cả những giải pháp này đem tới một chiếc đồng hồ DS có thể chịu được một cú rơi từ độ cao 6 m so với mức 1,8-2m ở thời điểm cuối thập niên 1950, và khả năng chống nước đã nâng lên tới 200m.

Bộ sưu tập Certina DS bắt đầu được sản xuất từ 1958 và chính thức bán ra thị trường vào năm 1959. Các giải pháp sáng tạo được cấp bằng sáng chế của Certina đã mở ra một chương hoàn toàn mới trong lịch sử phát triển  của họ và đặt ra các tiêu chuẩn mới cho việc tạo ra đồng hồ. Khái niệm double security đã giúp củng cố danh tiếng của công ty và cho phép Certina trở thành công ty top đầu trong ngành, với hơn 300.000 chiếc đồng hồ DS sẽ được bán ra trong 9 năm sau.

LÝ THUYẾT ĐƯỢC CHỨNG THỰC TRONG THỰC TẾ - CUỘC THÁM HIỂM TRÊN HÃY HYMALAYA

Chỉ một năm sau khi ra ra đời dòng sản phẩm DS, vào năm 1960, hãng Certina đã đưa sản phẩm của mình vào trong một thử nghiệm mạo hiểm. Ngày 13-5-1960, một đội thám hiểm người Thụy Sỹ, dưới sự lãnh đạo của Max Eiselin đã thành công khi đạt tới độ cao 8167m tại đỉnh Dhaulagiri, tất cả các thành viên của đoàn thám hiểm đều được trang hãng Certina trang bị đồng hồ DS Automatic.

Chiếc đồng hồ đã phải tiếp xúc với các điều kiện sử dụng vô cùng khắc nhiệt. Sự thay đổi nhiệt độ rất cao. Sương giá đặc biệt nghiêm trọng, độ ẩm đáng kể, áp suất thay đổi vô cùng khó chịu. Sau chuyến đi, những chiếc Certina DS đã thể hiện một sự ổn định đáng tin cậy - các cơ chế bảo vệ đã được thử nghiệm thành công trong điều kiện thực tế khắc nghiệt!

Điều đáng chú ý là những chiếc đồng hồ từ bộ sưu tập DS đều được thiết kế, chế tạo và lắp ráp hoàn toàn bởi xưởng nội bộ Certina. Cơ chế bảo vệ kép và tất cả các chi tiết đồng hồ đều được tạo ra bởi các thợ của Certina và lắp ráo trên dây chuyền riêng biệt.

THẬP NIÊN 60 đến đầu 1970 : TĂNG TRƯỞNG MẠNH

Những năm thập niên 60 đánh dấu những bước phát triển mạnh mẽ nhất trong lịch sử thương hiệu, đầu tiên là sự ra đời của lô gô nắp đáy hình con rùa đặc trưng cho dòng DS - ám chỉ bộ thân vỏ chắc chắn của con rùa. Các mẫu mới nhận được sự công nhận tích cực từ khách hàng, nhà sản xuất và không ngừng tăng trưởng thị phần. Năm 1963, Certina đã có trong tay 800 nhân viên và sản xuất 500.000 đồng hồ mỗi năm.

Các sản phẩm nổi tiếng của thương hiệu đã đạt được danh tiếng là đáng tin cậy tuyệt vời vào giữa những năm 1960, nhờ vào đó. Chúng đã được sử dụng tại nhiều đơn vị khác nhau, đơn cử như trong hải quân Mĩ : cuộc thí nghiệm có tên là Sealab-II. Đây là thí nghiệm nghiên cứu khoa học về cuộc sống của cá heo, tiến hành trong điều kiện rất khó khăn dưới nước bằng cách sử dụng đồng hồ cơ khí.  Cuộc nghiên cứu này có sự tham gia của nhà khoa học nổi tiếng người Na Uy Sem-Jacobsen và nhà du hành vũ trụ người Mĩ Carpenter.

Năm 1968, Certina ra mắt mẫu DS-2. Tiếp nối sự thành công của bản tiền nhiệm, các mẫu mới đáng tin cậy và thậm chí bền bỉ hơn với khả năng chịu nước ở độ sâu tùy theo phiên bản là 200m và 500m - một con số khá lớn ở thời điểm đó. Mẫu Certina Super PH 500m đã được sử dụng vào năm 1969 trong dự án Tektite 1 do hải quân Mĩ, Nasa và ,General Electric phối hợp thực hiện. Dự án này có sự tham gia của 4 thợ lặn, họ đã dành 60 ngày dưới nước liên tục, và sống trong một căn nhà được chuẩn bị đặc biệt, nằm ở độ sâu 15m nước. Mục đích của thí nghiệm này là nghiên cứu đáy biển, nhưng cũng để quan sát hành vi và phản ứng của các nhà khoa học ở trong những môi trường không bình thường trong một thời gian dài.

Dự án Tektite 1 được coi là thành công rực rỡ, và bộ tính giờ của những người tham gia thí nghiệm đều được đánh giá tích cực. Một năm sau, dự án Tektite II khởi động, trong đó 5 thợ lặn, được trang bị các mẫu Certina tiếp tục được tín nhiệm tham gia dự án.

Cũng cùng Năm 1970, những chiếc đồng hồ thuộc bộ sưu tập Chronina DS-2 Chronolympic theo chân các nhà thám hiểm nhật bản tới đỉnh Everest. Trong chuyến thám hiểm này, vận động viên trượt tuyết người Nhật là Yuichiro Miura đã có pha mạo hiểm trượt từ độ cao 8000 xuống 7000m, và thiết bị đeo tay Certina của cô đã chống chọi thành công điều kiện rung lắc chấn động khi đó.

THẬP NIÊN 1970 - 1983 : GIA NHẬP LIÊN MINH, CHỐNG CHỌI NHẬT BẢN

Bắt đầu từ cuối 1960 đầu thập niên 1970, thế giới đồng hồ bắt đầu chuyển mình lao theo công nghệ thạch anh Quartz. Tại Thụy Sỹ, mặc dù đã thành lập liên minh nghiên cứu công nghệ Quartz, viết tắt là CEH nhưng người Thụy Sỹ vẫn bị đánh bại về mặt thời gian so với Seiko Nhật Bản. Đứng trước áp lực rất lớn, hãng Certina đã nhanh chóng gia nhập Liên minh ASUAG - một liên minh lớn nhất Thụy Sỹ bao gồm rất nhiều nhà sản xuất máy đồng hồ và nhãn hiệu đồng hồ khác nhau.

Cùng với sự gia nhập, Certina cũng là thành viên tham gia sáng lập tổ hợp các nhãn hiệu chính bên trong ASUAG, có tên là GENERAL WATCH CO với các công ty khác nhau hợp thành như Atlantic, Certina, Edox, Technos..vv...vv. Việc sát nhập này dẫn đến Certina phải từ bỏ việc mở rộng cũng như bỏ luôn mảng tự sản xuất máy. Công việc phát triển đồng hồ vẫn tiếp tục, năm 1971, Certina đã giới thiệu chiếc đồng hồ đầu tiên thế giới có khả năng hiển thị nhịp tim sinh học con người, có tên là Biostar. Đến năm 1972, Certina đã có 900 nhân viên và sản xuất đồng hồ hàng năm đã đạt mức 600 ngàn chiếc. Một vài mẫu bấm giờ cũng đã được tạo ra trong thời gian này ( máy mua ngoài), ví dụ như mẫu Regatta Chronolympic rất chính xác và chắc chắn đang sử dụng trong cuộc đua thuyền. Ngoài ra hãng Certina cũng trở thành nhà tài trợ cho đội tuyển quốc gia Thụy Điển trong môn khúc côn cầu.

Cũng trong thời gian này, công ty đã nhận được một giải thưởng uy tín tại hội chợ thương mại quốc tế về trang sức và chế tác đồng hồ. Certina đã đứng đầu nhờ làm đồng hồ bằng vàng trắng có trang trí kim cương. Đó là một tác phẩm tuyệt đẹp của nghệ thuật chế tác, và đã được trao giải " kim cương quốc tế" và " bông hồng vàng". Tại thời điểm này, công ty có khả năng sản xuất 375.000 linh kiện đồng hồ mỗi ngày, và tiêu tốn tới 53.000 chân kính để làm đồng hồ.

Năm 1975 cũng diễn ra một sự kiện khá quan trọng, Certina đã ra mắt mẫu đồng hồ Certina Dia-master, với bộ vỏ cực kì sáng tạo làm từ vật liệu Vonfram kết hợp saphire. Có 3 phiên bản khác nhau được bán ra, loại thân vỏ này thực tế là được phát minh bởi Rado - một nhãn hiệu anh em bên trong ASUAG và nó đã trở thành tâm điểm tại hội chợ Basel, và để quảng bá nó, người ta đã mời nhà vô địch quyền anh hạng nặng Mohamed Ali đeo nó.

Năm 1977, mẫu đồng hồ thạch anh Dia-Master xuất hiện. Cũng trong năm đó, nhà sản xuất xe hơi Thụy Điển Volvo đã đặt hàng tổng cộng 64.113 chiếc đồng hồ Certina để tặng cho mỗi nhân viên của mình, nhân kỉ niệm 50 năm thành lập. 

Mặc dù rất cố gắng, nhưng về cơ bản thời kì này Certina nói riêng và cả hệ thống ASUAG lẫn đồng hồ Thụy Sỹ nói chung đều dần dần rơi vào vòng xoáy khủng hoảng trầm trọng khi phải đối mặt với cơn lốc đồng hồ giá rẻ đến từ Nhật Bản. Sản lượng của ASUAG đã bị sụt giảm tới 80% vào cuối thập niên 70. Thời điểm cuối 1970, toàn bộ cơ sở sản xuất của công ty được chuyển về Bien/Biel, công đoạn sản xuất được gộp chung với dây chuyền của tổ hợp Edox và Technos. Năm 1979, Certina chính thức đạt doanh số 1 triệu chiếc DS bán ra thị trường - một con số vô nghĩa ở thời kì khủng hoảng.

Thời gian sau đó, là giai đoạn kinh hoàng của suy thoái trầm trọng, khi cả ASUAG và đối thủ của nó là SSIH đã phải cầu cứu ngân hàng khi  không còn trả nổi lương cho nhân viên, lần lượt là vào năm 1981 và 1982. Các ngân hàng Thụy Sỹ đã vào cuộc với sự xuất hiện của một người trung gian - có tên là Nicolas Hayek. Cùng với các cộng sự, Hayek đã đề ra hàng loạt các biện pháp cắt bỏ, tinh giản và tái cơ cấu, bằng việc đầu tiên là sát nhập cả ASUAG  và SSIH lại làm một. Với cái tên SMH vào năm 1983. Công cuộc tái cơ cấu diễn ra nhanh lẹ, có những nhãn hiệu bán đi - trong đó có cả Technos và Edox - 2 nhân tố quan trọng trong tổ hợp sản xuất vùng Bien cùng với Certina, có nhãn hiệu ở lại, và có nhãn hiệu được mua thêm. Và Certina thì vẫn trụ ở lại.

TỪ 1983 TỚI NAY - VỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN.

Việc cải tổ cơ cấu lại, dẫn tới chấm dứt hoàn toàn việc sản xuất hầu hết các loại máy in-house của đa số các thương hiệu giá rẻ, và bắt buộc sử dụng máy từ cơ sở ETA - bộ phận sản xuất máy riêng biệt từ SMH. Cho tới năm 1998, sau những thành công về mặt tài chính của cả tập đoàn, mà chỉ yếu đến từ chiếc đồng hồ giá rẻ Swatch, SMH chính thức đổi tên thành tập đoàn Swatch, và Certina trở thành một nhãn hiệu thuộc phân khúc Middle Rage của tập đoàn này.

Certina bước vào thế kỉ 21 với tư cách là một thương hiệu chủ yếu liên quan đến bộ bấm giờ dành riêng cho những người năng động, chuyên sản xuất các mẫu đồng hồ thể thao và tham gia rất nhiều vào các sự kiện thể thao, đặc biệt là trong ngành công nghiệp ô tô. Vào năm 2009, Certina ra mắt chiếc Certina Editina DS-1 Automatic Limited Edition, giới hạn chỉ 5000 chiếc, kỉ niệm 50 năm ra đời hệ thống bảo mật kép DS đã tạo nên danh tiếng cho thương hiệu.

Ngày nay, Certina đã trở thành một nhà sản xuất uy tín, với giá thành phải chăng, đi kèm nhiều mẫu mã thể thao năng động dành cho người yêu thích thể thao. Tới năm 2003, Certina đã di dời trụ sở từ Grenchen đến Lelocle, một thời đại mới có lẽ đã được bắt đầu từ đây!

CHẤT LƯỢNG VÀ GIÁ BÁN

Ngay từ khi thành lập, phương châm của Certina đã tập trung vào phân khúc đồng hồ giá phải chăng đi kèm chất lượng cao. Vì liên quan đến các phương thức cải tổ của cả tập đoàn từ những năm 1983, nên Certina cũng như các nhãn hiệu tầm thấp khác ( như tissot hay Mido, Hamilton) không được phép phát triển sản xuất máy In-house, mà họ sẽ sử dụng các cỗ máy của ETA. Đây là những cỗ máy rất ổn định và đã được chứng minh qua thực tế. Đặc biệt, một số cỗ máy của Certina như Powermatic 80 ( cũng được áp dụng cho Tissot) có khả năng kháng từ cực tốt, vận hành tới 80 giờ và giá cả lại vô cùng phù hợp.

Công nghệ bảo vệ kép DS vẫn được giữ nguyên như một món đặc sản độc quyền của Certina. Qua bài viết rất dài ở trên, có lẽ bạn đọc đã được xem qua hàng loạt kiểm nghiệm của cơ chế này, nó thực sự rất bền và cũng là ưu điểm cực kì nổi trội của Certina so với nhiều đối thủ khác cùng tầm giá - nói thẳng ra là hơn hẳn về mặt cấu trúc thân vỏ. Và rõ ràng là kết cấu bảo vệ này lại vô hình trung phù hợp với phong cách thiết kế đậm chất thể thao của Certina.

Giá bán của Certina tập trung mạnh ở phân khúc 500-1500 USD. Đây là một mức giá rất tốt khi so sánh với các đối thủ, mặc dù thực tế là các hãng đồng hồ Thụy Sỹ ở phân khúc này máy móc đều gần như tương đồng - sử dụng ETA hoặc Sellita bản đại trà, nhưng kết cấu thân vỏ độc quyền là một thứ vô cùng đắt giá khiến Certina trội hơn nhiều - thậm chí có thể nói là đứng đầu ở phân khúc này.

KẾT LUẬN

Một hãng đồng hồ lâu đời, có ý chí cầu tiến và trải qua vô vàn thăng trầm của thời đại. Có lúc huy hoàng, nhưng cũng có lúc khốn khó vô bờ. Certina là một đại diện tiêu biểu cho những hãng đồng hồ tầm thấp đầy nỗ lực của Thụy Sỹ. Swatch là tập đoàn đồng hồ lớn nhất thế giới, và không đơn giản để trụ lại và tồn tại ở đó! Sở hữu trong mình DNA Thụy Sỹ chính tông, có những nét vừa độc quyền, nhưng giá bán lại rất phải chăng. Những sản phẩm của Certina hiện nay là sự kết nối hoàn hảo giữa công nghệ hiện đại/ độc quyền với lịch sử huy hoàng trong quá khứ. Sẽ thật buồn nếu như bạn đeo trên tay một chiếc đồng hồ Thụy Sỹ mà lại chẳng có gì để kể lại! Certina không phải là trường hợp như vậy, bạn cần lịch sử sẽ có lịch sử! Bạn cần những thứ phát minh độc quyền, Certina cũng có cho bạn! Và bạn cần một người bạn trung thành sẵn sàng theo bạn đi muôn nơi, Certina cũng sẽ đồng hành cùng với bạn mà không hề than vãn! Và biên niên sử của Certina tạm dừng bút ở đây, kính chúc mọi người một ngày thật hạnh phúc và vui vẻ!!

SEIKO CHRONOGRAPH : LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

* biên dịch bởi Lê Hoàng Thạch* CALIBRE 5719 : CHRONOGRAPH ĐEO TAY ĐẦU TIÊN CỦA NHẬT BẢN Khi hãng Seiko bắt đầu thiết kế ra chiếc đồng hồ ...