Sunday, January 12, 2020

Ls đồng hồ 7

*Syaiên dịch có chỉnh sửa theo firstclasswatches*

Có một điều mà tất cả mọi người trên thế giới đều phải công nhận, đó là mua được một chiếc đồng hồ Thụy Sỹ có nghĩa là bạn đang chứng minh được sự xuất sắc trong thế giới ngày nay. Từ thời kì của đồng hồ bỏ túi, trải qua suốt cuộc khủng hoảng thạch anh và sau khi apple watch ra đời, thì Thụy Sỹ vẫn là cái tên được hiểu là " tốt nhất". Nhưng hãy nghĩ xem, làm thế nào mà đồng hồ Thụy Sỹ lại có thể đạt được vị thế như trên, bất chấp sự cạnh tranh của các quốc gia khác để vươn lên thống lĩnh thị trường thế giới? Ngay bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu ngọn nguồn của câu chuyện!

BÌNH MINH CỦA MỘT NGÀNH CÔNG NGHIỆP.

Người Thụy Sỹ vốn không phải là quốc đầu tiên có thể thu gọn kích thước đồng hồ đủ nhỏ để có thể mang theo người, kẻ tạo ra sự khác biệt ấy chính là người Đức. Chiếc đồng hồ có kích cỡ nhỏ gọn đầu tiên, được tạo ra vào khoảng giữa năm 1509-1530 bởi Peter Henlein ở Nieders. Với chiều dài hơn 3 inch, nó có khả năng mang theo, đủ để mặc kèm với quần áo nhưng lại hơi to để nhét vừa trong túi. Nó cũng rất hiếm và đắt tiền, chỉ có những quý tộc thời đó mới có khả năng sở hữu vì chẳng ai có thể mua nổi ngoài họ!

Ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ cũng được bắt đầu ngay sau đó, khi cuộc cách mạng tôn giáo, đề xướng bởi Martin Luther bùng nổ ở Tây Âu vào năm 1915. Cuộc chiến tranh tôn giáo tại Pháp đã dẫn tới một cuộc đàn áp rộng khắp đối với người theo đạo tin lành, nhiều người trong số họ đã trốn chạy sang Thụy Sỹ, mang theo đồng hồ cũng như kĩ năng chế tạo đến vùng Geneva. Dòng người tị nạn này đã giúp biến Geneva thành một thành phố nổi tiếng với ngành chế tạo đồng hồ chất lượng cao.

Tại Geneva khi đó đang diễn ra cuộc cải cách tôn giáo lớn, đứng đầu bởi John Calvin, biến nơi đây trở thành một địa điểm tuyệt vời cho nạn dân tin lành. Theo đạo luật của Calvin, thì trang sức đã bị cấm đeo ở thành phố mặc dù ở đây có rất nhiều thợ kim hoàn lành nghề! Đạo luật này đã phá hủy các doanh nghiệp sản xuất kim hoàn và tráng men tại Geneva, đẩy họ dần chuyển hướng sang sản xuất đồng hồ. Những người thợ kim hoàn và tráng men ở Geneva vốn có chuyên môn và kĩ năng thiết kế cao, đã hợp tác với những nạn dân lành nghề, có kiến thức và kĩ thuật để tạo ra các loại đồng hồ khác nhau.

Cuối cùng, khi các quy định được nới lỏng vào cuối thế kỉ 17, thành phố đã được biết tới như một nơi chuyên về đồng hồ. Lúc này, mọi người đã được phép đeo đồ trang sức, các kĩ thuật làm đẹp truyền thống đã kết hợp với kĩ nghệ chế tạo đồng hồ, và chỉ trong một thời gian ngắn, những chiếc đồng hồ tại Geneve không chỉ nổi tiếng về kĩ nghệ và chất lượng, mà còn bởi vẻ đẹp của chúng.

CON ĐƯỜNG THỐNG TRỊ NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐỒNG HỒ

Vào thời điểm đó, mặc dù đã có được danh tiếng khá tốt, nhưng thực tế là đồng hồ Thụy Sỹ khi ấy chưa phải là tiêu chuẩn mà tất cả những nơi khác phải noi theo. Tại thời điểm thế kỉ 18, những tiêu chuẩn được áp dụng cho đồng hồ có lẽ là những loại được sản xuất tại Anh Quốc.

Đồng hồ bỏ túi rất khổ biến tại Anh thời điểm đó, lý do thường được gán cho sự xuất hiện của dòng áo Gi - Lê. Chính vì sự phổ biến này, người ta đã dành rất nhiều thời gian và công sức đầu tư vào phát triển đồng hồ, bao gồm máy cắt răng phát minh bởi Robert Hooke, đã giúp gia tăng khối lượng đồng hồ được sản xuất, phát minh về lò xo cân bằng - tạo ra bởi Robert Hooke ở Anh và Christiaan Huygens ở Hà Lan, đồng hồ đi biển Chronometer và bộ thoát đòn bẩy giúp gia tăng độ chính xác, cũng như chất lượng đồng hồ. Tại Anh Quốc, những phát kiến mới từ James Cox, John Harrison và George Graham đã mở đường cho loại máy cơ khí mà bạn đang thấy ngày nay.

Trong khi Anh Quốc đang dẫn đầu về sự đổi mới trong thời gian này, thì rất nhiều công việc cũng đang diễn ra ở Thụy Sỹ. Nghề làm đồng hồ đã bắt đầu trải dài trên dãy núi Jura, nơi công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ, cả về chất lẫn lượng. Phần lớn những sự thay đổi  tại vùng núi Jura đến từ một người, ông ta tên là Daniel Jeanrichard, một người thợ kim hoàn, ông là người đầu tiên áp dụng phân công lao động cho ngành chế tạo đồng hồ. Bằng cách sử dụng phương pháp này, đã làm tăng về hiệu quả và tiêu chuẩn hóa - tức là gia tăng cả về chất lẫn lượng. Đến cuối năm 1790, Geneva đã xuất khẩu tới hơn 60.000 đồng hồ.

Ngày nay, Jean Richard được coi là người sáng lập của ngành công nghiệp chế tạo đồng hồ ở bang Neuchatel. Những năm sau đó, có nhiều sáng kiến cũng đã xuất hiện ở Thụy Sỹ. Abraham Louis Perrelet đã tạo ra chiếc đồng hồ tự động lên cót vào năm 1770, nó chính là tiền thân của các thế hệ đồng hồ tự động lên cót ngày nay. Adrien Philippe, một trong những người sáng lập nhãn hiệu Patek Philippe, đã phát minh ra chiếc đồng hồ mặt dây chuyền, chức năng Fly Back cũng được phát triển ở vùng núi Jura ở thời gian này.

Bạn cũng sẽ không thể quên việc phát minh ra cơ chế Tourbillon, của Abraham Louis Breguet vào năm 1795, và cấp bằng sáng chế năm 1801. Đây là một trong những phát minh đáng kinh ngạc nhất, xét về mặt kĩ thuật chế tạo đồng hồ cấp cao, mặc dù giá cả của nó không hề dành cho tất cả mọi người.

Nhưng,  có một phát minh quan trọng giúp Thụy Sỹ giành quyền kiểm soát ngành công nghiệp đồng hồ, lại không được phát triển ở đây - nó đến từ nước Pháp. Vào năm 1760, một thợ đồng hồ người Pháp Jean Antoine Lépine, đã phát minh ra một loại máy phẳng, có tính tinh giản, nó được gọi là máy Lépine. Kiểu máy mới này cho phép các nhà sản xuất tạo ra những chiếc đồng hồ bỏ túi nhỏ hơn, mỏng hơn. Nhà sử học nghiên cứu lịch sử đồng hồ, ông David Christianson, đã giải thích về sự sụp đổ của các cựu đế chế đồng hồ : thời bấy giờ, thời trang nam giới - là quần áo mỏng và áo gi lê, đã đặt ra yêu cầu về một chiếc đồng hồ có bộ vỏ nhỏ hơn, và Anh Quốc đã không chuẩn bị sẵn sàng cho việc làm mỏng đồng hồ của họ.

Jean Antoine Lépine là một phần của ngành công nghiệp đồng hồ Pháp, ông là thợ sửa đồng hồ cho vua Louis XV, Louis XVI và Napoleon Bonaparte. Tuy nhiên, chính phát minh của ông đã giúp tạo ra một tân cường quốc đồng hồ là Thụy Sỹ, và gần như phá hủy luôn cả ngành công nghiệp đồng hồ Nước Pháp. Vào đầu những năm 1800, máy Lépine đã được nhà sản xuất đồng hồ Pháp là Frederick Jacco chuyển thành nhà máy sản xuất. Sự phát triển này lại đem lại lợi thế hơn cho Thụy Sỹ hơn là người Pháp, vì nông dân Thụy Sỹ sẽ dành những tháng mùa đông để làm linh kiện cho các công ty Geneve. Khi công nghệ tiếp tục được triển khai để sản xuất hàng loạt, các nhà sản xuất đồng hồ Thụy Sỹ, đã có thể sản xuất đồng hồ với khối lượng cao hơn nhiều so với đối thủ của họ.

Và điều quan trọng hơn cả, việc sản xuất hàng loạt dù được chấp nhận ở Thụy Sỹ, nhưng nó lại bị từ chối hoàn toàn trên đất Pháp. Các nhà sản xuất đồng hồ Anh và Pháp đã không thể cạnh tranh nổi với số lượng, giá cả so với đồng hồ Thụy Sỹ được sản xuất hàng loạt. Ngành công nghiệp đồng hồ Anh Quốc gần như sụp đổ vào cuối những năm 1800, và ngành công nghiệp Pháp chỉ còn tồn tại với số lượng rất nhỏ, bởi những người có tay nghề cao, với những chiếc đồng hồ chất lượng.

ÉTABLISSAGE - CON ĐƯỜNG DẪN TỚI SỰ THỐNG TRỊ.

Phương thức phát triển nền công nghiệp đồng hồ của Thụy Sỹ, là rất khác biệt so với những nước khác tại Châu Âu. Theo lời ngài Jerome Lambert, giám đốc điều hành Montblanc, thì Thụy Sỹ là một quốc gia " phi tập trung", mỗi thung lũng đều có chủ sở hữu hoặc tổ chức thành một trung tâm thành phố nhỏ rất năng động. Nó không giống như ở Anh Quốc hay Pháp, nơi mà có sự tập trung của nhiều thành phố lớn.

Các nhà sản xuất đồng hồ Thụy Sỹ đã sử dụng một hệ thống sản xuất đồng hồ, có tên là Établissage, cho phép họ phát triển quy mô sản xuất nhanh hơn nhiều so với bất kì đối thủ nào. Theo WorldTemplus, nó có nghĩa là : quy trình sản xuất đồng hồ/máy đồng hồ bằng cách lắp ráp từ các thành phần khác nhau, liên quan đến các hoạt động : mua vào, kiểm tra và lưu trữ máy bán thành phẩm ( Èbauches), các bộ phận điều chỉnh.... Sau đó lắp ráp mặt số, kim, vỏ, kiểm tra chất lượng sau cùng và đóng gói gửi đi.

Các bộ phận khác nhau của một chiếc đồng hồ sẽ được sản xuất ở những nơi khác nhau, sau đó, các nhà sản xuất sẽ lắp ráp chúng để tạo ra một chiếc đồng hồ hoàn chỉnh. Quy trình này cho tới nay vẫn được áp dụng bởi các nhà sản xuất giá rẻ, với các linh kiện được sản xuất ở Viễn Đông, sau đó được lắp ráp tại Thụy Sỹ. Bằng cách sử dụng hệ thống này, tốc độ sản xuất đồng hồ Thụy Sỹ đã tăng lên một cách khó tin. Năm 1800, csr Thụy Sỹ và Anh Quốc đều sản xuất 200.000 đồng hồ, nhưng tới năm 1850, Thụy Sỹ đã sản xuất tới 2.200.000 đồng hồ, trong khi Anh Quốc chỉ dừng lại ở con số ít hơn 200.000 chiếc. 

Tuy nhiên, tại thời điểm đó, khối lượng cao hơn không đồng nghĩa với chất lượng cao hơn. Nó gần giống như cách mà các quốc gia như Trung Quốc hay Thái Lan đang làm. Tức là là tạo ra một số lượng lớn các thành phần đồng hồ có giá rẻ và nhanh, số lượng lúc này không phải lúc nào cũng đi đôi với chất lượng. Có nhiều chiếc đồng hồ Thụy Sỹ lúc này trông giống hệt như những chiếc được sản xuất tại Anh và Pháp, nhưng giá cả lại thấp hơn và luôn sẵn hàng - tuy nhiên chất lượng không bằng.

Chiến lược sản xuất ồ ạt đã có hiệu quả trong một thời gian nhưng nó đã để lại một hậu quả tai hại, nhất là khi người Thụy Sỹ dùng nó để công phá thị trường Mĩ béo bở - những kẻ cũng đang bắt đầu trỗi dậy và tự sản xuất đồng hồ cho riêng họ. Thị trường Mĩ lúc này tràn ngập những chiếc Thụy Sỹ giá rẻ, mà người Mĩ coi như đồ rác rưởi.

KẾT HỢP SẢN XUẤT HÀNG LOẠT VỚI CHẤT LƯỢNG CAO

Có thế nói, nếu không có được quy trình sản xuất được tối ưu hóa của người Mĩ, thì rất có thể Thụy Sỹ đã không phải là cường quốc về chế tạo đồng hồ, như chúng ta biết ngày nay!

Ở Thụy Sỹ khi đó, có những công ty có những sản phẩm chất lượng tuyệt hảo, nhưng họ đã bị thua thiệt về số lượng ở thời điểm giữa những năm 1800, bởi các công ty sản xuất đồng hồ giá rẻ, có chất lượng thấp hơn. Ở Mĩ, quy trình sản xuất đã được tối ưu hóa để đảm bảo rằng, tất cả mọi sản phẩm đều đáng tin cậy, nhưng họ lại thiếu đi những bí quyết chế tạo đồng hồ cổ truyền và vẻ đẹp nếu so với đồng hồ Thụy Sỹ.

Năm 1868, Florentine A. Jones chuyển từ Mĩ sang Thụy Sỹ, và thành lập ra công ty đồng hồ quốc tế ( tức hãng IWC  ngày nay). Đây là công ty đầu tiên đã thành công trong việc kết hợp bí quyết của Thụy Sỹ, với kĩ năng sản xuất của Mĩ. Đây cũng chính là khởi đầu để các công ty đồng hồ Thụy Sỹ khác, rời bỏ phương thức Établissage để chuyển toàn bộ việc sản xuất vào một nhà máy duy nhất, điển hình là hãng Longines - họ đã tích hợp toàn bộ các công đoạn sản xuất vào nhà xưởng của họ vào năm 1866, và đã sử dụng tới hơn 1100 nhân công trong suốt 45 năm.

Bằng cách tối ưu hóa sản xuất, hướng tới đẩy mạnh quy trình nội bộ, ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ đã có thể duy trì được sản lượng cao, đồng thời vẫn giữ được danh tiếng về chất lượng.

Kể đến công lao cho kĩ nghệ sản xuất hàng loạt, ta phải nhắc tới hai người rất quan trọng, là Pierre Frederic Ingold và Feorgers Auguste Léschot. Léschot  là người nổi tiếng nhất trong hai người, ông đã phát minh ra một trong những cỗ máy đầu tiên, có thể sản xuất nhiều bộ phận khác nhau của đồng hồ, và chúng có thể hoán đổi được cho nhau!

Ingold ít được biết tới hơn, ông đã tham gia vào việc tạo ra nhiều chiếc đồng hồ chất lượng đầu bảng ở Pháp, vào đầu những năm 1800, với tư cách là người học việc của kì nhân Breguet. Điểm quan trọng nhất mang tới sự đổi mới lâu dài về sau, đó chính là những cỗ máy để sản xuất đồng hồ. Ingold đã phát triển các loại máy sản xuất các tấm kèm các bệ rửa và ổ lót chân kính, máy sản xuất ổ cót và nhiều loại bộ phận khác. Ông đã chuyển tới Anh Quốc, cố gắng nhân rộng các loại máy này nhưng bị phản đối kịch liệt, cuối cùng ông đã chuyển sang Mĩ, nơi mà những phát minh của ông đã được chấp nhận, và nó đã tạo ra sự ảnh hưởng lớn đến các nhà máy sản xuất đồng hồ ở khu vực Boston.

Sau khi quay trở lại Pháp, và sau đó là Thụy Sỹ, ông vẫn tiếp tục phát minh. Nhiều phát minh và Kĩ thuật của ông đã được áp dụng, ví dụ như " ingold fraise" - một công cụ chỉnh sửa bánh răng, và một loại bộ thoát mới được tạo ra vào năm 1852. Những phát minh và kĩ thuật này rất quan trọng, trong việc cho phép ngành công nghiệp Thụy Sỹ hướng tới tối ưu hóa sản xuất In-house. Tầm ảnh hưởng của Ingold tại Mĩ là rất quan trọng đối với sự thay đổi ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ, và những phát minh của ông tại Thụy Sỹ cũng có tầm quan trọng như vậy.

Những phát minh của cả Ingold và Léschot, đã giúp Thụy Sỹ mở rộng uy quyền của mình trong ngành công nghiệp đồng hồ toàn cầu vào đầu thế kỉ 19. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu xem, bằng cách nài mà Thụy Sỹ có thể chiếm thế thượng phong vào đầu thế kỉ 20, và thách thức họ phải đối mặt trong phần 2 của loạt bài này!

Friday, January 10, 2020

Vài chia sẻ về món đồng hồ cao cấp :
Lướt qua vài trang ở đây thấy mấy bác cãi nhau, có người thắc mắc hàng replica hay sao mà lắm đồ cao cấp thế ? Việt nam chả lẽ chơi ghê vậy sao?? Em xin có vài lời thế lày :

Em cũng chưa nhiều tuổi ( 30) lắm, nhưng được cái có duyên tiếp xúc với anh em bán hàng, các đại diện nhà phân phối lớn của Việt Nam, các đại diện hãng, và cũng thường đi dự các buổi giới thiệu sản phẩm cao cấp, hay siêu cấp ( từ 40 ngàn usd trở lên), loại vài trăm triệu, vài tỉ hay trên 10 tỉ em đều có cầm qua và rì viu rồi. Xin đánh giá cái thị trường và dân chơi việt nam như sau : thị trường Việt Nam là thị trường lớn và có tiềm năng, dân số to đùng cách mạng, và dân chơi cũng rất ghê gớm theo đúng nghĩa đen. Kinh tế chúng ta đang phát triển, nhưng các tay chơi và nhà giàu chịu chơi không hề kém, các sản phẩm rác, nấm từ bên tàu tuồn sang rất nhiều, nhưng các sản phẩm cao cấp từ 500 usd trở lên hàng chục tỉ cũng không thiếu, thị trường buôn bán cũng vô cùng tấp nập. Những hàng trung cấp sang trọng như rolex, omega, jaeger le coultre , GP, grand seiko.... Trao tay hàng trăm triệu diễn ra như cơm bữa và tăng rất mạnh, có vài bác thợ vốn mạnh, chỉ cần vào nhà là thấy toàn rolex vàng đúc, có nhiều anh em miền nam đi xe máy, túi ghẻ nhưng rút ra cả vài con mấy trăm triệu là chuyện bt.

Các sản phẩm cấp cao hẳn như patek, a.lange & sohn, richard, breguet, bovet.... Cũng rất sôi động, bác nào chưa biết cứ ngó qua trung võ frodos ( cháu cụ giáp) hay cường Luxury tp hcm, miluxe ở Hà Nội là thấy hiểu rồi. Không phải cái gì cũng có, nhưng hàng đắt lòi mồm không thiếu, đồ tiền tỉ xếp vài bàn không hết.

Thị trường đồng hồ Việt Nam to cỡ nào? Trong năm 2018, báo cáo của Thụy Sỹ lần đầu tiên xếp hạng Việt Nam vào 1 trong 64 thị trường lớn nhất về đồng hồ ( chỉ tính hàng thụy sỹ, và xếp thứ 64). Và ngay từ đầu 2019, đã có sự xuất hiện của những cuộc thương thảo đình đám, như triển lãm kĩ nghệ chế tạo đồng hồ cấp cao SIHH với những con hàng 5 tỉ, 7 tỉ, 12 tỉ .... Hay như sự thương thảo thành công nhãn hiệu certina với gallewatch, sự nhảy bổ vào của Thế giới di động, Viettel ... Đã cho thấy sức nóng ghê gớm của thị trường đồng hồ Việt Nam. Nếu không có sự phát triển mua bán hàng cấp cao, chúng ta sẽ không có sự nể trọng đến vậy từ quốc tế.

Em cũng như các bác, chơi đồng hồ từ mấy cái rẻ rác, rồi lần lần mãi lên hàng thụy sỹ cao cấp. có cơ duyên mà lấn sâu vào một chút nên rất hiểu. Em chỉ muốn nói thế này : buôn có bạn, bán có phường, các bác không chơi nổi không có nghĩa là người khác không chơi được, và chỉ khi vào sâu các bác sẽ thấy, nhiều con đồng hồ up trên này đôi khi cũng chưa là cái gì cả. Cũng giống như cái nhành hoa phong lan giá 2 tỉ, thị trường đồng hồ cao cấp nó ngấm ngầm chảy, và chỉ dành cho những ai chịu chơi thật sự. Hãy bớt tranh cãi và mở lòng ra, các bác sẽ tiếp nhận được nhiều thứ vô cùng thú vị và bổ ích))))

Sunday, December 29, 2019

Poljot vàng

Poljot là một nhãn hiệu đồng hồ cao cấp thời xưa, đến từ liên bang xô viết. Trong những năm tháng chiến tranh và thời bao cấp, sở hữu được một chiếc poljot bọc vàng thôi đã là một điều cực kì xa xỉ, nhưng ngay bây giờ, chúng tôi sẽ giới thiệu đến cho các bạn sản phẩm còn mang tầm đẳng cấp hơn thế nữa rất nhiều lần, một mẫu đồng hồ mà chỉ có những con người đẳng cấp, cực kì giàu có trong xã hội cộng sản thời xưa mới có khả năng sở hữu : đồng hồ poljot tự động vỏ vàng hồng nguyên khối 14k!

Chiếc đồng hồ có thiết kế vô cùng hút mắt ngay từ cái nhìn đầu tiên, mặt số màu đỏ kết hợp vỏ vàng hồng sáng bóng, làm nổi bật lên vẻ sang trọng quyền lực. Thiết kế vỏ khá đầm  và lớn hơn so với nhiều mẫu vintage xưa. Cảm giác đeo lên tay khá nhẹ nhàng ôm tay.

Phần mặt trước có kích thước 36 mm, được bảo vệ bởi một lớp kính nhựa đặc trưng của những chiếc vintage xưa. Phía sau lớp kính là mặt số màu đỏ rực cực kì nổi bật. Đây là một chi tiết mà rất nhiều tay chơi vintage nga yêu thích, nó làm người ta liên tưởng tới biểu tượng của chủ nghĩa xã hội, thường có màu đỏ. Toàn bộ cọc số và kim được thiết kế nổi có màu vàng tương phản với phần mặt nền.

Về tổng thể, thiết kế mặt số rất trực quan, đơn giản và dễ xem giờ, mang đậm chất dress watch thanh lịch. Tại góc 3 giờ, ta có thêm một ô lịch ngày bổ sung.

Phần thân vỏ của đồng hồ được làm từ vàng nguyên khối 14k sáng bóng, bộ vỏ có màu vàng hồng cực kì sang trọng, phần tai càng được cắt gọt mạnh mẽ. Do tai càng hơi dài, nên khi đeo lên cổ tay nó giúp cho chiếc đồng hồ lớn hơn một chút so với kích thước 36mm.

Phần nắp đáy phía sau cũng được làm từ vàng hồng nguyên khối 14k sáng bóng. Trên bề mặt nếu để ý kĩ, bạn sẽ thấy được bộ triện vàng 14k, độ tinh khiết 58,3 % được dập khá sắc nét. Về cơ bản, bộ vỏ có thiết kế khá trung tính, tập trung vào phong cách nhẹ nhàng thanh lịch nhưng vẫn không kém phần sang trọng !

Chiếc đồng hồ sử dụng cỗ máy tự động lên dây cót cao cấp của liên xô, sở hữu 23 chân kính, tần số 18.800 vph.

Liên xô là một thực thể chính trị lớn trong quá khứ, dù không còn tồn tại nhưng những sản phẩm dưới thời của họ vẫn luôn để lại những dấu ấn đậm nét cho bao thế hệ người Việt Nam, trong đó có đồng hồ . chiếc đồng hồ các bạn đang xem vốn có giá rất đắt tiền từ thời ngày xưa, và tới nay giá trị của nó cũng không hề rẻ, khoảng 30 triệu đồng, nó là đẳng cấp, là ước mơ và cũng là hoài niệm về một quá khứ đã xa.

Chương trình review đồng hồ tới đây là kết thúc, nếu thấy hay, hãy like và đăng kí kênh vì nó luôn miễn phí, còn bây giờ , xin chào và hẹn gặp lại ở những chương trình lần sau.

Saturday, December 28, 2019

Trên đây là toàn bộ những thông tin hữu ích, về cuộc thi độ chính xác ở tây Âu mà seiko đã từng tham gia. Có thể nói, chỉ trong thời gian rất ngắn, hãng đã làm được một kì công vĩ đại, khiến cho các đối thủ thụy sỹ phải nghiêng mình kính nể, và thực tế là chỉ trong một thập kỉ sau đó, seiko đã chứng minh rằng : thời đại của đồng hồ nhật bản đã tới! Một tân hoàng đế đã xuất hiện, và đó chính là seiko !

Chương trình kiến thức và lịch sử tới đây là kết thúc, xin hẹn gặp lại các bạn ở những chương trình lần sau!

LỊCH SỬ NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐỒNG HỒ THỤY SỸ (P1)

* biên dịch có chỉnh sửa theo firstclasswatches*

Có một điều mà tất cả mọi người trên thế giới đều phải công nhận, đó là mua được một chiếc đồng hồ Thụy Sỹ có nghĩa là bạn đang chứng minh được sự xuất sắc trong thế giới ngày nay. Từ thời kì của đồng hồ bỏ túi, trải qua suốt cuộc khủng hoảng thạch anh và sau khi apple watch ra đời, thì Thụy Sỹ vẫn là cái tên được hiểu là " tốt nhất". Nhưng hãy nghĩ xem, làm thế nào mà đồng hồ Thụy Sỹ lại có thể đạt được vị thế như trên, bất chấp sự cạnh tranh của các quốc gia khác để vươn lên thống lĩnh thị trường thế giới? Ngay bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu ngọn nguồn của câu chuyện!

BÌNH MINH CỦA MỘT NGÀNH CÔNG NGHIỆP.

Người Thụy Sỹ vốn không phải là quốc đầu tiên, có thể thu gọn kích thước đồng hồ đủ nhỏ để có thể mang theo người, kẻ tạo ra sự khác biệt ấy chính là người Đức. Chiếc đồng hồ có kích cỡ nhỏ gọn đầu tiên, được tạo ra vào khoảng giữa năm 1509-1530 bởi Peter Henlein ở Nieders. Với chiều dài hơn 3 inch, nó có khả năng mang theo, đủ để mặc kèm với quần áo nhưng lại hơi to để nhét vừa trong túi. Nó cũng rất hiếm và đắt tiền, chỉ có những quý tộc thời đó mới coa khả năng sở hữu vì chẳng ai có thể mua nổi ngoài họ!

Ngành công nghiệp đồng hồ Thụy Sỹ cũng được bắt đầu ngay sau đó, khi cuộc cách mạng tôn giáo, đề xướng bởi Martin Luther bùng nổ ở Tây Âu vào năm 1915. Cuộc chiến tranh tôn giáo tại Pháp đã dẫn tới một cuộc đàn áp rộng khắp đối với người theo đạo tin lành, nhiều người trong số họ đã trốn chạy sang Thụy Sỹ, mang theo đồng hồ cũng như kĩ năng chế tạo đến vùng Geneva. Dòng người tị nạn này đã giúp biến Geneva thành nột thành phố nổi tiếng với ngành chế tạo đồng hồ chất lượng cao.

Tại Geneva khi đó đang diễn ra cuộc cải cách tôn giáo lớn, đứng đầu bởi John Calvin, biến nơi đây trở thành một địa điểm tuyệt vời cho nạn dân tin lành. Theo đạo luật của Calvin, thì trang sức đã bị cấm đeo ở thành phố mặc dù ở đây có rất nhiều thợ kim hoàn lành nghề! Đạo luật này đã phá hủy các doanh nghiệp sản xuất kim hoàn và tráng men tại Geneva, đẩy họ dần chuyển hướng sang sản xuất đồng hồ. Những người thợ kim hoàn và tráng men ở Geneva vốn có chuyên môn và kĩ năng thiết kế cao, đã hợp tác với những nạn dân lành nghề, có kiến thức và kĩ thuật để tạo ra các loại đồng hồ khác nhau.

Friday, December 27, 2019

THĂM CƠ SỞ SẢN XUẤT MÁY ĐỒNG HỒ STP : CÂU TRẢ LỜI CỦA FOSSIL GROUP DÀNH CHO ETA

* biên dịch bởi Lê Hoàng Thạch*

STP là viết tắt của " Swiss Technology Production" , nó là vũ khí bí mật của tập đoàn Fossil, nhằm mục đích giành chiến thắng trong cuộc chơi trên thị trường đồng hồ cơ khí. Khai trương vào năm 2008 và thuộc sở hữu của tập đoàn Fossil, STP sản xuất các cỗ máy cơ học cho các nhãn hiệu nội bộ Fossil, kèm theo đó là các đối tác bí mật khác. Theo cách này, STP có một chút giống với ETA và Sellita.

Tôi đã rất hào hứng khi được tới thăm nhà sản xuất này, kể từ khi biết được sự tồn tại của nó thông qua những chiếc đồng hồ thuộc hãng Zodiac - dòng Sea Wolf và Super Sea Wolf ( dòng đồng hồ lặn sói biển rất nổi tiếng của zodiac). Những chiếc đồng hồ này có chứa bên trong cỗ máy tự động STP1-11. Được thiết kế như một bản sao của ETA 2824-2, và là một lựa chọn thay thế cho Sellita SW200.

Là một bản sao của ETA 2824, nhưng nếu chỉ đứng một mình thì nó là chưa đủ để gây sự chú ý. Như ta đã biết, nếu như không có sự ủng hộ từ các đối tác lớn như Tag Heuer, Sellita có lẽ sẽ không bao giờ có thể vươn cao và trở thành một đối thủ cạnh tranh với ETA dù giá bán rẻ hơn. Tương tự như vậy, STP được hưởng lợi lớn từ tập đoàn Fossil, một đơn vị mạnh mẽ luôn nhắm đến thị trường đồng hồ cơ khí quốc tế, bên cạnh thị trường đồng hồ thời trang - vốn là thế mạnh của họ. Những người đam mê đồng hồ một cách nghiêm túc sẽ ít để ý tới những sản phẩm đồng hồ thạch anh giá rẻ, được bán bởi Fossil như Emporio Armany, Buberry hay Michael Kors. Nhưng cùng với nhau những nguồn thu từ các sản phẩm này, lại đem tới cho công ty những nguồn lực cần thiết để có thể tiến tới chiếm lĩnh tầng lớp cao hơn, ở ngay trong ngành chế tạo máy đồng hồ Thụy Sỹ.

Fossil sở hữu một xưởng thiết kế tại Thụy Sỹ, có tên là Antima. Đây là nơi các sản phẩm AAA được lên ý tưởng, thiết kế và công nghiệp hóa. Nó là một xưởng mang đậm phong cách Mĩ đặc trưng, không chỉ có những chiếc đồng hồ phức tạp nhất, tốt nhất của Fossil được thiết kế ở đây, mà nhiều trong số chúng cũng sẽ được lắp ráp ngay tại chỗ này, bao gồm cả các sản phẩm của Zodiac, cùng với các nhãn hiệu thuộc bộ sưu tập Swiss made. Antima là một nơi đặc biệt dành cho bất cứ ai bị mê hoặc bởi các bộ phận, như vỏ đồng hồ, Mặt số và thiết kế dây đeo.

Quay trở lại với nhà máy STP, nó nằm cách Basel vài giờ về phía nam gần với Lugano. Ở bên ngoài, có rất ít kí hiệu STP để nhận biết nhà máy, nhưng đi vào bên trong và lên lầu 2, bạn sẽ có được cái nhìn sâu hơn về một trong những nhà máy sản xuất movement cơ khí tiên tiến bậc nhất Thụy Sỹ.

STP tuyên bố rằng, họ là công ty đầu tiên sử dụng robot tự động để hỗ trợ con người trong sản xuất máy đồng hồ, STP được hưởng lợi từ các ông chủ ở Mĩ và các nhà quản lý Thụy Sỹ, với sự kết hợp tài năng tốt nhất để đảm bảo tính hiệu quả, chất lượng và năng suất. STP không sử dụng các công ty vệ tinh, nên mọi công đoạn lắp ráp sẽ diễn ra ngay bên trong cơ sở sản xuất. Công ty có thể tạo ra khoảng 600-1300 cỗ máy mỗi ngày, tùy thuộc vào loại máy cụ thể mà họ đang làm.

STP là một địa điểm lắp ráp máy, nhưng bản thân tập đoàn Fossil cũng tự sản xuất được nhiều bộ phận tại một nhà máy khác cũng đặt tại Thụy Sỹ. Hầu hết các thành phần trong máy STP được sản xuất bởi nội bộ tập đoàn, nhưng họ vẫn phải dựa vào một loạt các nhà cung cấp khác trong khu vực, những đơn vị này sẽ làm bộ phận cầu, dây cót, bánh răng, chân kính... STP không chỉ sản xuất một cỗ máy Swiss theo tiêu chuẩn hiện đại, mà họ sẽ làm cả loại máy đạt đủ tiêu chí Swiss Made mới áp dụng từ năm 2017. Việc sản xuất các bộ phận của máy, và sản xuất các bộ phận của đồng hồ là hai mảng riêng biệt, và các công ty phải mất rất nhiều năm để có thể làm chủ được cả hai.

Sản phẩm trọng tâm của STP là máy STP1-11, đường kính 25,94mm, dao động ở tần số 4hz, khả năng trữ cót là 44 giờ. Cỗ máy này cũng được đánh vân tròn trang trí, STP rất tự hào về khả năng tùy biến của nó. Ví dụ như bánh xe lịch ngày, ETA và Sellita chỉ cho bạn lựa chọn màu đen hoặc trắng, trong khi đó STP sẵn sàng làm việc với các nhà cung cấp bánh xe khác, để tìm ra màu sắc, thậm chí là phông chữ phù hợp với ý thích của khách hàng nếu họ có nhu cầu! Điều này làm tăng thêm giá trị sản phẩm và giải quyết lời than phiền của các tay chơi, liên quan đến phần hiển thị lịch.

Saturday, December 21, 2019

Armand nicolet

Chào mừng các bạn đã quay trở lại chuyên mục review đồng hồ của watchvietnam. Armand nicolet là một nhà sản xuất đồng hồ độc lập, chất lượng cao của Thụy Sỹ, những chiếc đồng hồ của họ luôn giữ được giá thành phải chăng kèm theo một mức giá tốt. Ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng trên tay một chiếc đồng hồ vỏ vàng cao cấp với những tính năng tương đối phức tạp : Armand Nicolet tramelan Completed calender

Chiếc đồng hồ có kích thước 41mm, nó khá dày và hầm hố. Do được làm từ vỏ vàng 18k, lại chứa bên trong cỗ máy cơ khí phức tạp nên khi cầm lên tay, bạn sẽ thấy trọng lượng đầm và nặng. Phong cách thiết kế đậm chất quý phái và phô trương tạo nên nét thượng đẳng khi được đeo lên cổ tay của các quý ông.

Mặt số của chiếc đồng hồ rất phức tạp. Nó được bảo vệ bởi một lớp kính saphire trong suốt có tráng phủ lớp chống phản xạ ánh sáng. Mặt số bên dưới sẽ khiến bạn có chút choáng ngợp bởi số lượng các tính năng, bao gồm ngày, tháng, thứ và lịch tuần trăng, cũng bởi vậy nên nó mới được gọi với cái tên : compelete calendar - hay dịch ra tiếng việt, có nghĩa là lịch hoàn thiện.

Tại góc 12 giờ, chúng ta sẽ có một ô lịch tuần trăng đặt ở đây. Đây là một ô lịch tuần trăng cơ bản, với 59 bánh răng cho một tháng lịch 29,5 ngày. Tính năng này cho phép bạn theo dõi chu kỳ mặt trăng, âm lịch, thực tế nó không còn hữu dụng trong thời điểm hiện tại, nhưng xét về góc độ kĩ thuật và thẩm mĩ thì đây lại là một chi tiết đắt giá khiến bao tay chơi ao ước.

Ở phần trung tâm, ta có một 4 kim bao gồm : giờ phút giây có màu xanh dương quyến rũ, cùng với một kim lịch ngày trong tháng hình mũi tên đầu đỏ. Bộ kim giờ và phút thiết kế theo dạng kim mắt ngỗng độc đáo, đặc trưng lấy từ hãng Breguet. Kim lịch ngày trong tháng vươn dài ra sát vách mặt số, ở đây có đầy đủ 31 ngày xếp hình vòng tròn, được đánh dấu bằng mực đen, mỗi ngày sẽ khớp với đầu kim màu đỏ.

Ở nửa dưới của đồng hồ là bộ 2 ô tính năng ngày trong tuần và lịch tháng, nằm gọn gàng bên dưới bộ kim trung tâm. Chúng được chỉ ra bởi hai chiếc kim nhỏ cũng có màu xanh dương. Sự xuất hiện của bộ lịch này làm tăng thêm sự phức tạp cho mặt đồng, và bạn sẽ cần một chút thời gian để làm quen với nó.

Tổ hợp bộ lịch hoàn thiện này, bao gồm lịch tuần trăng, ngày-tháng và thứ sẽ được tinh chỉnh bởi 4 nút nhất nhỏ đặt tại 4 góc nằm bên hai bên hông của đồng hồ. Mỗi một nút nhấn áp dụng một tính năng lịch. Do nó rất bé, nằm ẩn sâu bên trong thân vỏ nên bạn cần có một dụng cụ đẩy đầu nhỏ để có thể chọc vào.

Đi sang phần thân vỏ, như đã nói từ đầu, chiếc đồng hồ khá dày và nặng, thiết kế mặt hông rất độc đáo, nhà sản xuất đã sử dụng nhiều đường cắt dọc song song, tạo nên hiệu ứng thị giác đồng đều ổn định, mang đậm chất quý phái. Bộ tai càng được thiết kế cũng rất khác biệt, với các chi tiết bổ sung làm cho nó thêm phần hầm hố mạnh mẽ, và đặc biệt khi đeo lên tay rất ôm và khít, loại bỏ hoàn toàn sự lỏng lẻo so với loại tai càng thông thường.

Phần mặt sau của chiếc đồng hồ được làm từ vàng 18k kết hợp kính saphire trong suốt, giúp bạn quan sát được toàn bộ cỗ máy bên trong. Các chỉ số được khắc xung quanh phần nắp đáy vàng, kèm theo đó là bộ triện kim loại quý đầu chó st. Bernard đặc trưng của Thụy Sỹ. Đây là triện quốc gia chỉ áp dụng cho các sản phẩm vỏ kim loại quý từ sau năm 1995. Ở ngoài mép nắp đáy, hãng sử dụng cách đánh vạch khía tương tự như phần hông, chi tiết này vừa làm tăng vẻ sang trọng, cũng như giữ cho bộ vỏ bám chắc hơn trên cổ tay.

Cỗ máy bên trong là loại máy tự động lên dây cót khá phức tạp. Đây là một cỗ máy có nguồn gốc từ hãng sản xuất ETA, sau đó được chỉnh sửa lại với những phần module lắp bổ sung tại mặt trên, khiến cho nó mở rộng hơn về mặt tính năng. Cỗ máy được hoàn thiện ở mức độ trung bình, con văng lên cót có màu vàng, khắc lô gô của hãng armand nicolet. Kết hợp với vỏ vàng phía sau, nó tạo nên một sự hòa trộn ấn tượng về mặt thị giác.

Chiếc đồng hồ được bán kèm với dây da bò màu đen và khóa cài. Bộ khóa này được làm từ vàng 18k đắt tiền như bộ vỏ, có khắc dòng chữ Nicolet ở mặt trên. Nếu để ý kí, bạn sẽ thấy đầy đủ các bộ triện vàng 18k được đóng ngay ở mặt bên. Đó là một chi tiết thể hiện sự cầu toàn và tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp đối với các sản phẩm làm từ vàng của hãng Armand nicolet.

Sang trọng, hầm hố, phức tạp, với một thiết kế ấn tượng hút mắt người xem. Chiếc đồng hồ là sự hội tụ nhiều tinh túy của nền công nghiệp sản xuất đồng hồ Thụy Sỹ, tất nhiên để sử dụng thành thạo nó, bạn sẽ cần bỏ chút thời gian để hiểu cách tinh chỉnh. Và khi hoàn toàn làm chủ được các tính năng của chiếc đồng hồ, thì có lẽ bạn sẽ càng hiểu hơn về sự tài hoa của các nhà chế tạo đồng hồ thụy sỹ. Mặc dù vẫn còn chút nhược điểm độ hoàn thiện máy bên trong, nhưng do đây là dòng sản phẩm phức tạp nhưng lại có giá bán hợp lý, nên đây là điều có thể chấp nhận được!

Chương trình review đồng hồ tới đây là kết thúc, nếu thấy hay, hãy like và chia sẻ vì nó luôn miễn phí, còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại ở những chương trình lần sau!

Ls đồng hồ 7

*Syaiên dịch có chỉnh sửa theo firstclasswatches* Có một điều mà tất cả mọi người trên thế giới đều phải công nhận, đó là mua được một chiế...